CẬP NHẬT

Thứ Bảy, 20 tháng 5, 2017

Cài hiệu ứng song song cho Lexicon Mx400

Chơi effect rất quan trọng cho những người ham mê kok gia đình cũng như làm các sự kiện,liên hoan văn nghệ, ca nhạc. Trong đó Lexicon MX400 là thiết bị effect thực sự hiệu quả với số tiền đầu tư. Tuy nhiên việc căn chỉnh thông số sao cho chuẩn xác lại là vấn đề không đơn giản với những người a-ma-tơ. Có rất nhiều bác hỏi thăm cách setup , bởi mua thiết bị về mà ko biết dùng thì cũng dở. Em tranh thủ vài dòng setup hầu các bác.

Bước 1 : Kết nối : dùng jack 6 ly balance TRS (jack stereo) , nếu ko có, thì có thể dùng tạm jack 6 ly unbalance TS (jack mono)
- MX400 là loại Dual stereo effect, với 4 input và 4 output, phù hợp nhất khi dùng với bàn mixer có 2 aux send trở lên. Tuy có 4 input nhưng ta chỉ cần dùng 2 input, với 1 input cho mỗi engine, đỡ tốn dây kết nối, giản tiện, mà vẫn đảm bảo chất lượng cũng như vận hành. Đương nhiên là dùng đủ 4 output.
- Từ mixer , gửi 2 đường aux send 1 và 2 tới ngõ Left của channel A và ngõ Left của channel B .
- Từ MX400 : lấy 2 đường output của channel A nối vào 1 kênh stereo trên 1 mixer, lấy 2 đường output của channel B nối vào 1 kênh stereo khác trên mixer.
- Mặt trước của MX 400, nút Input Level A và B để ở vị trí giữa

Bước 2 : Restore Factory setting
Nếu là mua mới, chưa sử dụng lần nào thì có thể bỏ qua bước này. Đây là thao tác để loại bỏ những setup trước ko chính xác, nhằm tiện lợi hơn khi sử dụng thực tế.
- Bật Power On, trình tự thao tác bấm nút như sau : vào System - vặn nút Page/Select về bên phải đến hết trang, thấy mục FACTORY RESTORE đang ở trạng thái NO , vặn nút tròn nhỏ C về bên phải, cho hiển thị HOLD <STORE>, bấm và giữ nút STORE đang nháy đèn đỏ, sau vài giây, MX400 đã được khôi phục nguyên trạng của nhà SX.
- Vặn nút tròn to PAGE/SELECT về trái, đến page 2, vặn nút tròn nhỏ A và B để chọn mục INPUT SOURCE A và INPUT SOURCE B thành ANLG MONO L, các tính năng khác giữ nguyên (ANALOG OUT LEVEL +4dBu)
- Bấm nút EXIT để thoát

Bước 3 : EDIT Effect 1 : REVERB
- Con trỏ trên màn hình đang ở vị trí Big Pop Vocal, bấm nút tròn to PAGE/SELECT, xoay nút tròn to cho đến mục EDIT MIX/ROUTING, bấm tiếp nút tròn to, dùng nút tròn nhỏ A để chọn kiểu ROUTING là STEREO, nút B để chọn EFFECT MIX (chọn 99% WET, mặc định)
- Bấm EXIT
- Xoay nút tròn to PAGE/SELECT đến phần CHANGE EFFECT, rồi bấm .
- Xoay nút tròn to về bên phải, đến mục VOCAL PLATE, rồi bấm để chọn hiệu ứng này
- Xoay nút tròn to vầ bên trái, đến mục EDIT EFFECT, rồi bấm để vào các Page của nó
- Dùng các nút tròn nhỏ A , B, C để set các thông số tương ứng
+ PRE DELAY : 20ms ~ 25ms
+ MID RT : 3s ~ 3,5s
+ SIZE : 20m

- Vặn nút tròn to về bên phải để vào Page 2
+ SHAPE : 60
+ SPREAD : 90
+ RT HIGHCUT : 20KHz

Tiếp, Page 3 :
+ HIGHCUT : 20KHz
+ BASS FREQ : 200Hz ~ 250Hz
+ BASS BOOST : 0,4 ~ 0,8
Nếu hệ thống bị ù rền nhiều, thì giảm bớt BASS BOOST

Page 4 :
+ DIFFUSION : 90
+ FEEDBK DLY : 40ms ~ 60ms
+ FEEDBK LVL : 0

Như vậy đã setup song thông số cho Effect A : Vocal Plate (Reverb)

Bước 4 : Store
- Bấm nút STORE để lưu chương trình ta vừa setup xong, màn hình hiển thị NAME PROGM TO SAVE, dùng các nút tròn to, tròn nhỏ A, B để đặt tên theo ý mình.
- Bấm nút STORE lần 2 , màn hình hiển thị LOCATION TO STORE, chọn vị trí kênh để lưu chương trình. màn hình LED bên phải đang hiện ch.trình 1
- Bấm nút STORE lần 3 để lưu các thông số đã setup vào chuong trình 1, đèn xanh bên dưới chữ USER sáng.

SETUP Effect 2 : Dual effect

Bước 5 :
- Xoay nút tròn to PAGE/SELECT, cho con trỏ màn hình nhảy xuống dòng 2 , đèn LED Dual Stereo B sáng
- Bấm PAGE/SELECT
- Xoay PaGE/SELECT chọn mục EDIT MIX/ROUTING, rồi bấm
- Xoay nút tròn nhỏ A, chọn chế độ ROUTING : MONO SPLIT
- Xoay nút tròn nhỏ C, chọn EFFECT MIX : 80 WET
- Bấm nút EXIT để thoát

EDIT EFFECT 3
- Xoay PAGE/SELECT chọn mục CHANGE EFFECT 3, rồi bấm
- Xoay PAGE/SELECT chọn mục STUDIO DELAY (mặc định),
- Bấm EXIT
- Xoay PAGE/SELECT chọn mục EDIT EFFECT, rồi bấm để vào Page
- Xoay các nút tròn nhỏ A, B, C để đặt :
+ TEMPO : 120 BPM
+ DELAY TIME : 229ms ~ 240ms
+ FEEDBACK : 42 ~ 45 %
+ DUCKTHRESH : -60dB ~ - 55dB
- Bấm EXIT để thoát

EDIT EFFECT 4
- Xoay PAGE/SELECT đến mục CHANGE EFFECT 4, rồi bấm
- Xoay PAGE/SELECT chọn VOCAL HALL, bấm để chọn
- Xoay PAGE/SELECT, chọn muc EDIT EFFECT 4, rồi bấm để vào Page
- Xoay các nút tròn nhỏ A, B, C để đặt :
+ PRE DELAY : 30ms ~ 40ms
+ MID RT : 1,5s
+ LIVENESS : 80 ~ 85

Nhu vậy đã setup xong 2 effect trong engine B

Bước 6 : STORE
- Bấm nút STORE để lưu chương trình ta vừa setup xong, màn hình hiển thị NAME PROGM TO SAVE, dùng các nút tròn to, tròn nhỏ A, B để đặt tên theo ý mình. Nên đặt 1 tên khác với chương trinh 1 đã lưu ở trên.
- Bấm nút STORE lần 2 để chọn vị trí chương trình, máy sẽ đặt mặc đinh trên màn hình LED là kênh 1, ta hết sức lưu ý là phải xoay nút tròn to bên phải PROGRAM/LOAD để nhớ chương trình vào kênh khác, VD là kênh 2. Nếu không để ý thao tác này, các setup cho chương trình 1 sẽ bị mất.
- Khi chọn được vị trí kênh mong muốn, bấm nút STORE lần 3 để lưu lại

Ta đã hoàn chỉnh setup các thông số cơ bản cho MX400, với 2 kênh hiêu ứng chính : Kênh A là Vocal Plate ( Reverb ), kênh B là Studio Delay + Vocal Hall ( Multi effect), để hát với tiếng effect rất ổn. Nếu muốn nịnh tai, người hát cần nhiều Delay trợ giọng như amply kok tích hợp thì nâng phần effect của Kênh B trên mixer, nếu muốn PRO thì nâng phần Kênh A nhiều hơn. Tùy thuộc vào hệ thống âm thanh, phòng ốc, cách bố trí loa... mà ta tăng giảm effect cho phù hợp.

Lưu ý :
- Nếu muốn lưu thêm chuong trình mẫu cho chắc ăn, khi ở màn hình chính, xoay nút PAGE/SELECT cho con trỏ về từng hiệu ứng, rồi dùng các nút tròn nhỏ A, B, C để thay đổi 1 chút thông số, khi đó đèn STORE sẽ sáng đỏ, ta bâm để lưu thêm chương trình sang 1 kênh khác làm dự trữ.
VD : đang ở kênh 1 (Reverb), ta chỉnh nút A cho phần PRE DELAY từ 25ms sang 26ms rồi bấm STORE cho lưu vào kênh 11, giữ nguyên tên, như vậy là đã có thêm 1 kênh dự phòng. Sau đó ta thoải mái thay đổi theo ý mình mà ko sợ mất dấu
Kênh 2 (multi effect) làm tương tự
- Khi xoay nút PAGE/SELECT kết hợp với xoay nút PROGRAM/LOAD, ta có thể hoán đổi vị trí các kênh effect đã cài đặt, hoặc cả 2 kênh đều cùng 1 loại effect :mrgreen:
- Trên đây chỉ là cách setup cơ bản, có thể thay đổi tùy nghi sử dụng.
- Lexicon MX 300 cũng gần tương đương các chức năng như trên, nên có thể tham khảo.

Chúc các bác vui vẻ, thoải mái hát ca và hài lòng với Lexicon MX400.

Giải pháp thiết kế 1 dàn âm thanh cho karaoke kinh doanh

Với 1 người chủ đầu tư kinh doanh nói chung và kinh doanh karaoke nói riêng thì việc xác định các yếu tố thiên thời - địa lợi - nhân hòa, chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh ... là vô cùng quan trọng, bởi nó quyết định đến sự thành bại, ảnh hưởng trực tiếp đến cái túi tiền. Nếu thành công, ta cười phe phé, tiền thu về tính theo "cần xé" , nhưng nếu ngược lại thì mặt ủ mày chau, đầu đau như búa bổ, nhìn ai cũng muốn "gây gổ"...


Điều đầu tiên phải xác định là tiêu chí xây dựng mô hình kinh doanh cho hợp lý. Các bác tham khảo thông tin chung chung trên mạng thì càng dễ bị nhiễu loạn thông tin, bởi yếu tố vùng miền nó ảnh hưởng khá nhiều. Ai kinh doanh cũng muốn bộ hát quán mình phải thật "HAY" - đương nhiên rồi, nhưng hay là hay thế nào ? Như thế nào là hay ? Trả lời được câu hỏi đó không hề đơn giản, nếu ta không xác định được tiêu chí tổng hợp một cách rõ ràng. Khách hàng hát karaoke thì nó đủ thể loại, già có, trẻ có, công chức, cán bộ, công nhân, học sinh/sinh viên... thượng vàng hạ cám, người hát hay người hát dở, người tỉnh - người say, người hát hò để thưởng thức lành mạnh, nhưng không thiếu những kẻ đến hát với mục đích không lành mạnh (chơi ma túy, tìm "tay vịn", thậm chí có cả những kẽ phá hoại...) . Ở đây ta chỉ đề cập đến vấn đề kinh doanh lành mạnh, gia đình, bạn bè, hội họp.
Vì lượng khách hàng quá lẩu thập cẩm như thế, nên vấn đề đánh giá chất lượng của quán kinh doanh từ phía khách hàng, những người từng đi hát, thường xuyên đi hát, hiếm khi đi hát, hay những người chỉ có hát ở nhà... những người đó có thể là người nhà, hay bạn bè của mình, hoặc người quen, hoặc các cơ sở kinh doanh thiết bị karaoke tư vấn ... sẽ cho ra kết quả cũng lẩu thậm cẩm luôn. Nhiều khi người chủ kinh doanh cũng chẳng biết ai đúng, ai sai, mà chỉ thấy hầu như ai cũng nói có lý cả, đam ra nhiễu loạn thông tin, càng tham khảo nhiều càng thấy lúng túng, lắm thầy thì nhiều ma.

Giải pháp khá đơn giản, nhưng hiệu quả, là tham khảo xung quanh, xem người ta đang làm thế nào, rồi mình rút ra ưu nhược điểm, rồi áp dụng riêng cho mình. Nếu như ở các thành phố lớn, tiêu chí sẽ khác với vùng xa, vùng sâu, thậm chí ngay cả các thành phố lớn, tiêu chí cũng khác nhau. VD một cách tương đối : nếu đem mô hình âm thanh quán hát karaoke phổ biến ở các quán tại trung tâm SG áp dụng ở khu vực trung tâm Hải Phòng thì chỉ có nước đóng cửa sớm bởi chất lượng âm thanh không thể so sánh được với quy mô và mức đầu tư. Nên chỉ nêu câu hỏi chung chung, nhờ ae khắp nơi tư vấn, e rằng rất khó khả thi, vì mỗi người sẽ có 1 phương pháp, có thể phù hợp với họ, nhưng áp dụng với mình lại rất bất ổn.

Các cơ sở kinh doanh ra sau, thì yếu tố để tạo nên sự cạnh tranh, thu hút khách hàng chính là ở chất lượng âm thanh, cơ sở vật chất, phong cách phục vụ và giá cả. Để mổ xẻ tường tận 4 vấn đề lớn đó thì nói cả ngày cũng không hết, ở đây ta sẽ cùng trao đổi về vấn đề chất lượng âm thanh - yếu tố tối quan trọng của một cơ sở kinh doanh karaoke lành mạnh. Hoặc sau một thời gian hoạt động, cơ sở cũng cần tính đến bài toán nâng cấp trang thiết bị âm thanh, để theo kịp với sự đổi mới, tự làm mới mình, tăng thêm sức cạnh tranh, khẳng định thêm vị thế... nhằm mục đích cuối cùng : giữ chân khách hàng cũ, thu hút thêm khách hàng mới , để tạo ra lợi nhuận tối đa, hiệu quả trên đồng vốn bỏ ra.

Để xác định yếu tố chất lượng , tức là cái "HAY" khi hát thì cho dù khách hàng có là ai, như thế nào, thì hệ thống âm thanh HAY phải đảm bảo cho họ 4 yếu tố CƠ BẢN sau đây :
1 - Đủ âm lượng loa và công suất
2 - Đủ dải tần cho cả lời hát và nhạc
3 - Chế độ effect/echo hài hòa
4 - Chế độ căn chỉnh âm lượng giữa phần lời và nhạc hợp lý, với tỉ lệ ưu tiên cho phần lời hát.

Đó là đề bài cần giải quyết, và đáp án sẽ có rất nhiều.

Một người A trước đây chỉ đi xe đạp nội cà tàng, nay được đi cái xe mini Nhật mới toanh,êm ru, đạp nhẹ, lướt, bon, hẳn sẽ thấy rất thích, rất sướng. Và thấy cái xe cà tàng đó chẳng ra gì, không muốn đi nữa.
Sau vài năm khấm khá, người nọ sắm được cái xe Honda cub, thì ôi thôi sướng quá rồi, vừa nhàn, vừa oai, thấy cái mini Nhật chỉ là đồ bỏ.
Rồi thời gian sau nữa, người này mua được cái Dream Thái, thì nhìn cái Cub chỉ bằng nửa con mắt... thấy trần đời này cái Dream Thái là vô địch
Có dịp người A được người bạn B cho mươn xe Honda SH, lúc đó thì cái Dream chẳng còn lung linh trong suy nghĩ của người A như trước nữa...

Sự cảm nhận cái "HAY" trong âm thanh karaoke cũng vậy thôi, những người thường xuyên đi hát,người có nhiều cơ hội so sánh các hệ thống, các quán kinh doanh, thì sự cảm nhận, đánh giá về chất lượng của họ sẽ giá trị hơn nhiều so với những người rất ít khi đi hát, ít có dịp tiếp xúc với cây micro. Tuy chỉ là hình ảnh ví von cho vui, nhưng cũng là thực tế mà nhiều người thường gặp. Và người chủ kinh doanh sẽ có cái nhìn tổng thể hơn về mỗi lời khen-chê chất lượng, để từ đó rút ra câu trả lời chính xác cho riêng mình.

Trở lại với 4 tiêu chí cơ bản, chỉ cần thiếu đi 1 yếu tố, thì hệ thống âm thanh karaoke khó mà thỏa mãn được khách hàng ở mức tối đa. Tuy không cầu toàn, nhưng việc đáp ứng được càng tốt các tiêu chí , sẽ khiến cho cơ hội thành công của ta cao hơn rất nhiều. Vì trong thực tế triển khai, có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến chất lượng, cả chủ quan và khách quan, dẫn đến làm giảm giá trị khai thác của hệ thống âm thanh. Vấn đề này sẽ bàn tiếp ở phần sau.
Giờ ta đi tìm lời giải cho từng vấn đề :
1 - Đủ âm lượng loa và công suất : như thế nào là đủ ?
Còn nhớ cách đây tầm 20 năm, 1 phòng hát karaoke tầm 25m2 đến 30m2 chỉ có 1 cặp loa Nhật bãi + 1 amply bãi, hoặc sang hơn là có đôi Bose 301 + amply California , không có sub. Vậy mà vẫn hát, vẫn thấy hay nức nở. Còn bây giờ thì sao, đã khác quá nhiều rồi.
Hệ thống đủ âm lượng : là khi mà hát ở mức độ lớn nhất, gào thét đi chăng nữa, hoặc chơi nhạc DJ mà âm thanh vẫn tròn đầy, nét, không bị vỡ tiếng, không méo tiếng, không bị peak ở cả loa và amply. Âm thanh lan tỏa đều các vị trí trong phòng, không bị chỗ quá to, chỗ quá loãng, chỗ nghe hay, chỗ nghe dở. Vấn đề này còn do setup vị trí loa, vị trí ghế ngồi, cấu trúc phòng ốc, bố trí nội thất. Càng nhiều loa, nhiều amply thì hệ thống càng dễ đạt được tiêu chí này. Nhưng vấn đề sẽ nảy sinh là chi phí đầu tư sẽ lớn, không gian trong phòng sẽ bị ảnh hưởng do bố trí quá nhiều loa, nếu setup không đúng thì lại làm giảm chất lượng chung của hệ thống. Âm thanh có thể bị ngược pha, đảo pha, delay... Tức là tuy thừa loa, công suất, nhưng hiệu quả khai thác lại rất thấp.
Giải pháp đưa ra : tùy theo không gian, tiêu chí phòng hát, ta bố trí loại loa có công suất, độ nhạy, góc phủ phù hợp.
Vấn đề nảy sinh tiếp theo : vậy chọn loại loa, loại amply nào cho đủ, cho phù hợp với giá tiền đầu tư. Ở đây, ta bàn đến 1 khía cạnh nhỏ, đó là sự so sánh giữa các dòng loa Bose , BMB và JBL đang được áp dụng rất nhiều trong các phòng hát karaoke suốt từ Bắc chí Nam.
Mỗi người có 1 sự cảm nhận, 1 sự trải nghiệm, và tùy thuộc vào sự "lấn sân" của các thương hiệu, dẫn đến tình trạng lựa chọn 1 hay vài loại loa "truyền thống" cho karaoke như BMB 252V, Bose 301 III, IV hay V, JBL RM10 hay 101 theo vùng miền theo kiểu "nhìn nhau mà làm" . Bởi nhiều người e ngại 1 sự đột phá, 1 sự mới mẻ, nếu không có kinh nghiệm, không có kỹ thuật, không có đôi ngũ tư vấn chuyên nghiệp và có TÂM, thì thôi, cứ đường mòn mà đi cho nó lành. Mọi người chơi thế nào, ta chơi thế ấy. Hay dở thì cả làng cùng chịu. Nên một hiện tượng dễ thấy là các mặt hàng loa cũ như BMB 252, Bose 301 III, amply California 468 "xịn" ... tăng giá quá nhiều, quá cao trong vài năm trở lại đây. Chất lượng so sánh với những dòng mới thì còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng rõ ràng, những sản phẩm này đang có mức giá ảo, mà chính "nạn nhân" lại là chúng ta, những người đã vô tình, hay hữu ý góp phần làm cho thị trường hàng "nòi" này trở nên "ngựa chứng" , chỉ có tăng mà chưa bao giờ thấy giảm giá. Trong khi thực tế có nhiều dòng loa mới, amply mới đáp ứng rất tốt các nhu cầu cần thiết của 1 phòng karaoke hiện đại.
Bài toán số lượng loa, amply sẽ có lời giải tùy thuộc vào đặc tính địa phương, tiêu chí phòng hát và đầu tư tài chính

2 - Đủ dải tần cho cả lời hát và nhạc nền : là sao ?
Cái thời của EQ hình chữ V như cánh én mùa xuân đã qua lâu lắm rồi. Âm thanh là phải đủ dải tần, Low, Mid, High, thì người nghe, và nhất là người hát sẽ ko bị mất giọng, âm thanh sẽ mềm mại, tròn trịa, đầy đủ, cảm giác hát rất thư thái. Tiếng nhạc cũng vậy, bass chắc chắn, gọn gàng, đầy đặn mà không được ù ì, đuôi dài lẵng nhẵng, trung âm phải nét nhưng vẫn êm, tiếng treble phải mượt mà, chi tiết mà không được chát chúa.
Nảy sinh 2 vấn đề : micro và nguồn nhạc nền
- Nếu là micro, có nơi dùng micro dây mới là đẳng cấp, nhưng có nơi đem mic dây vào là khách ko thèm hát. Chủ yếu là do tầm tiền thôi. Một chiếc micro không dây hạng xoàng xoàng, muốn có cùng chất lượng vối 1 chiếc micro dây, thì giá tiền phải gấp 4 đến 6 lần (trung bình). Mỗi loại có ưu nhược điểm riêng. Dây thì nhược điểm là lằng nhằng, vướng víu, cảm giác không Pro... Nhưng ưu điểm là (nếu cùng chất lượng âm thanh) : giá thành rẻ hơn đôi chút, ít hư hỏng hơn nếu làm rơi, nhúng nước, nhúng ...bia, không phải lo về sóng sánh tậm tịt, thay pin, khách ít "cầm nhầm" . Micro không dây thì có ưu điểm và nhược điểm ngược lại với nhược điểm và ưu điểm của mic dây.
Nói chung: để đầu tư thì micro không dây sẽ tốn kém hơn nhiều.Để hát ổn, thì micro không dây tầm 3 triệu/cặp. và mic dây tầm 2 triệu/cặp là đủ cho nhu cầu và chất lượng chấp nhận được.
- Về nhạc nền : cái này cũng phân thành nhiều trường phái , DVD MIDI 6 số, DVD HDD. Mỗi loại lại chia nhiều nhánh nhỏ với rất nhiều nhà cung cấp, nhiều thương hiệu, có thể tìm thấy ngay trên diễn đàn này.
Vấn đề chung của nhạc nền : nếu là giai điệu MIDI thì giá thành rẻ, chất lượng ở mức trung bình. Còn nếu lưa chọn HDD thì giá thành cao hơn, nhưng nhạc lại phù hợp với đại đa số người hát, bởi nhạc phát là nhạc như ca sĩ, có nhiều bản hòa âm để mình lựa theo ca sĩ mình thích, hình ảnh cũng sống động hơn, thật hơn. Âm lượng thì có nhược điểm lớn nhất là bài to bài nhỏ, hoặc bit rate nén quá nhiều làm giảm chất lượng. Nếu quán kinh doanh khách tự chọn bài, hoặc chọn bài theo kiểu phòng kỹ thuật chung cho nhiều phòng hát thì vấn đề này trở nên khó giải quyết, còn nếu 1 phòng 1 nhân viên chỉnh nhạc thì ok, ko vấn đề.

Để có nhạc nền hay, và tiếng mic hay, thì việc đủ dải tần cho nó là quan trọng. Việc này có thẻ xử lý trên amply, mixer hay bằng các thiệt bị hỗ trợ khác.

3 - Chế độ effect/echo hài hòa : là như thế nào ?

Mỗi người hát, dù là ca sĩ xịn hay ca sĩ vườn, đều cần một lượng tiếng vang nhất định để giúp cho giọng hát trở nên mềm mại và hấp dẫn hơn. Loại bỏ tiếng vang ký sinh do thiết kế nội thất phòng ốc (cái này cũng rất ảnh hưởng) thì vấn đề căn chỉnh tiếng vang (echo) trên amply karaoke hay chỉnh effect (reverb, delay) trên hệ thống karaoke pro là khá quan trọng.
Tùy theo mỗi bài nhạc, mỗi giọng hát , sẽ có yêu cầu cho tiếng vang khác nhau. Ở các hệ thống karaoke cố định, khách tự chọn, hoặc chọn bài theo phòng kỹ thuật tổng, thì thông số này cũng để mặc định. Còn ở các hệ thống có nhân viên chỉnh nhạc thì ok hơn.
Nếu sử dụng amply karaoke: thì tiếng vang là Echo (là 1 dạng của Delay nhưng hiệu ứng phức tạp hơn nhờ sự đan xen tín hiệu qua lại giữa 2 vế L và R theo 1 tỉ lệ nhất định do nhà SX đã thiết kế sẵn). Echo không được để lặp lại quá nhiều, làm tiếng hát bị đè lẫn lên nhau, tiếng trước đá tiếng sau. Các thông số ảnh hưởng là Dly Time và Repeat. Echo phải chỉnh để khi người hát dứt tiếng, phần lặp lại vẫn có đủ độ dài và độ lớn, tiếng hát sẽ không bị cộc, bị hụt, bị khô.Vị trí biến trở ở giữa (12h) là 1 vị trí trung tính, không hay nhưng cũng không dở, được thiết kế để nếu như ta không rành, có thể đặt vị trí đó, hát cũng tạm được. Tùy thuộc từng loại amply, tuôi đời máy khai khác nhiều hay ít, mà thông số này có thê có những sai số, có khi cùng để vị trí giữa, nhưng cái amply này nghe có vẻ nhiều echo hơn cái kia, hoặc ngược lại. Điều đó là bình thường, ta cần chỉnh cụ thể tùy theo từng loại.
Một số loại amply karaoke đời mới có tích hợp thêm mạch hồi âm Reverb, nhưng chất lượng khá hạn chế.

- Nếu sử dụng bàn mixer rời thì sao : có nhiều vấn đề nảy sinh , dùng effect nào cho hay? dùng loại có sẵn trên mixer hay dùng loại effect rời ?
Đương nhiên là hầu hết effect rời sẽ hay hơn, vì nó được thiết kê chuyên biệt.
Có 2 loại effect chủ yếu cần dùng cho việc hat karaoke là Delay và Reverb. Việc phối hợp các bộ tiếng vang này cần hết sức cẩn thận, bởi 1 đặc trưng là sự "nịnh giọng" sẽ có độ sai khác so với khi dùng amply karaoke truyền thống. Khi hát trên hệ thống dùng effect thì cảm giác đầu tiên là âm thanh có vẻ thật hơn, giông sân khấu hơn, tiếng mềm mại hơn, không bị cảm giác âm thanh lập bập như tiếng echo. Nhưng nếu căn chỉnh effect không hợp lý thì có thể người hát sẽ bị mệt, âm thanh phát ra mất đi vẻ quyến rũ vốn có của các hiệu ứng chuyên nghiệp này. Nếu chỉ dùng reverb không hoặc delay không thì không ổn chút nào, 2 hiệu ứng này cần phải mix lại với nhau theo 1 tỉ lệ nhất định, và các thông số của mỗi hiệu ứng phải được cài đặt thích hợp. Không phải tiếng delay , tiếng reverb nào của thiết bị nào dùng cũng cho ra hiệu quả giống nhau. Mà mỗi thiết bị sẽ có điểm đặc trưng, mỗi hiệu ứng trên cùng 1 thiết bị cũng cho ra âm thanh khác nhau. Ngay cả ca sĩ, muốn hát cho âm thanh hay, đẹp, họ vẫn cần cả tiếng delay và reverb, tùy theo bài nhạc, tùy theo không gian... tiếng effect vẫn có, nhiều hay ít mà thôi. Còn đối với đại đa số người hát karaoke thì tiếng delay sẽ cần với tỉ lệ cao hơn, so với tiếng reverb.
Trên thị trường có rất nhiều loại thiết bị tạo hiệu ứng effect: ít tiền 1 vài trăm $ cho đến hàng ngàn $, mỗi loại có những tính chất khác nhau, nên người sủ dụng muốn mua cần phải tham khảo thật kỹ đặc điểm tính năng, chất lượng, giá thành đầu tư trước khi quyết định

Và tiếng vang, vẫn là 1 yếu tố quan trọng để làm âm thanh karaoke được hay hơn

4 - Chế độ căn chỉnh âm lượng giữa phần lời và nhạc hợp lý, với tỉ lệ ưu tiên cho phần lời hát.

Vấn đề này được đặt ra khi mix phần lời hát và phần nhạc nền. Một tiếng hát quá to, phần nhạc quá nhỏ, hay ngược lại, đều làm cho tổng thể mất đi sự hài hòa. Nếu nhạc to, mic nhỏ, người hát sẽ rất mệt, nhạc nhỏ, mic to thì hát cũng rất chán. Vậy như thế nào là vừa ?
Thông thường , khi người hát, và người nghe sẽ có đặc điểm tâm lý khác nhau. Nếu người ngồi nghe cảm thấy vừa rồi, nghe như đĩa rồi, thì người hát sẽ cảm thấy giọng hát hơi nhỏ. Để cho người hát thấy thoải mái, hát nhẹ nhàng, không mệt, thì họ phải nghe rõ giọng hát của họ, dù khi hát ở nốt thấp nhất, nhỏ nhất.
Chế độ EQ cho phần nhạc cũng là vấn đề cần luu tâm. phần trung âm của nhạc nên giảm bớt, so với phần treble, và nhất là tiếng kick bass phải được thể hiện đầy đủ, chắc chắn để tạo nhịp. Tùy thuộc vào từng bài hát, thể loại, cách hòa âm mà mỗi bài có độ cân bằng các dải tàn số khác nhau. Có bài nhiều bass, bài thì nhiều treble, bài thì nhiều trung, ít bass ... Nhưng nguyên lý chung là các dải tần của nhạc không được che mất phần giọng hát

Trên đây là phân tích 1 chút về 4 yếu tố quan trọng để tạo ra chất lượng âm thanh hay cho hệ thống karaoke. Tuy nhiên , muốn đạt được nó, thì phải trải qua 1 vài trở ngại nữa về mặt kỹ thuật : đó là tiếng hú rít (lac-xen) và sự mất cân bằng âm lượng giữa phần lời hát và phần nhạc không thể khắc phục bằng các phương pháp thông thường.

Tiếng hú rít là rào cản kỹ thuật khiến cho chất lượng âm thanh bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tùy thuộc vào cấu hình hệ thống âm thanh, cách căn chỉnh, setup, cách bố trí loa, thiết kế nội thất, tiêu tán âm trong phòng ốc mà có thể mỗi phòng hát có 1 vấn đề hú rít khác nhau. Nhưng đặc điểm chung là hễ cứ nâng âm lượng micro, hay âm lượng tổng lên cho dễ hát, thì tiếng hú xuất hiện, nếu giảm bớt âm lượng, hay giảm bớt EQ trên các vị trí tương ứng để cho không còn hú rít thì tiếng hát lại trở nên nặng trịch, bí, tối ... Nhiều hệ thống bị vấn đề này rất nghiêm trọng , nhưng cũng hệ thống đó, ở không gian khác, lại không bị ảnh hưởng, hoặc mức độ ảnh hưởng ít hơn nhiều.
Biện pháp xử lý : nếu dùng EQ trên amply, hay trên mixer thì dường như không giải quyết được vấn đề. Bởi như đã nói trên, nếu giảm EQ, hay âm lượng thì âm thanh của micro lại mất rất nhiều, hát rất mệt. Do dải tần của mỗi nút EQ có băng thông rất rộng, khi giảm , ta sẽ giảm luôn cả những tần số không gây hú rít, nên làm chất lượng âm thanh xấu đi quá nhiều. Bởi vậy có nhiều phương pháp để xử lý tương đối triệt để : sắp xếp lại hướng loa, thay đổi loại loa, căn chỉnh lại hệ thống... nhưng hiệu quả nhất vẫn là dùng EQ pro dạng Graphic, 15 band hay tốt hơn là 31 band, cắt hú rít sẽ tốt hơn nhiều. Cách đấu nối thì tùy thuộc vào hệ thống mà ta đưa vào từng vị trí insert hay line cho phù hợp.
Trên thực tế, tiếng hú rít có thể xảy ra ở các dải tần từ 80Hz ~ 10KHz, nên để xác định chính xác dải tần nào bị hú rít thì dùng thiết bị đo chuyên dụng (chính xác nhất) hoặc dựa vào kinh nghiệm đôi tai (chính xác nhì) hoặc chỉnh bừa (chính xác bét). Cũng chính vì chỉnh bừa nên nhiều người có EQ mà vẫn không xử lý được tí nào vấn đề hú rít, mà trái lại còn làm âm thanh xấu tệ hơn. Hoặc dùng không đến nơi đến chốn, EQ cắt đúng tần số hú rít, nhưng cắt quá mức, làm cho đáp tuyến bị "lẹm" , âm thanh lại bị thiếu ở dài tần đó... Nên nhiều người ngại dùng EQ, hoặc không dám dùng EQ là vì vây. Một chiếc EQ tốt, không những không làm giảm chất lượng âm thanh chung, mà trái lại, nó còn giúp cho hệ thống đạt được sự cân bằng đáp tuyến, bổ sung hay cắt gọt những điểm cộng hưởng xấu, và thực sự EQ để cải thiện âm thanh, nhất là với không gian karaoke. Dùng EQ đúng, chi phí bỏ ra thấp hơn nhiều so với việc phải cải tạo lại hệ thống tiêu tán âm, thay đổi loa, công suất, và vấn đề quan trọng hơn, không tính được bằng tiền, là cơ sở kinh doanh bị mất khách, mất uy tín, khi có một chất lượng âm thanh tệ . Một khi đã mất đi thì Vấn đề lấy lại uy tín bao giờ cũng khó hơn rất nhiều

Cùng với tiếng hú rít thì sự mất cân bằng âm thanh giữa phần lời và nhạc cũng gây ảnh hưởng, tuy không quá lớn. Tren thị trường có một thiết bị chuyên nghiệp để hạn chế vấn đề này, đó chính là compressor/limiter., gọi tắt là comp
Comp sẽ giúp cân bằng âm lượng một cách tự động, giúp cho tín hiệu tổng thể trở nên hài hòa hơn, dày dặn hơn, đẹp hơn. Tuy nhiên dùng comp không đúng , sẽ gây ra vấn đề ảnh hưởng lớn đến chất lượng hệ thống. Cùng với EQ, thì comp cũng là 1 con dao 2 lưỡi, nếu biết sử dụng, hoặc có cách sử dụng vận hành đúng, thì chất lượng âm thanh sẽ rất tốt. Hiện nay, việc áp dụng các thiết bị Pro vào hệ thống karaoke kinh doanh, dù dùng amply karaoke truyền thống, hay dùng mixer + effect rời chuyên nghiệp đều đem lại hiệu quả rất cao, đảm bảo tối ưu hóa khả năng xư lý tín hiệu, nâng cao hệ số an toàn cho bộ loa, công suất.Thật nhiều ưu điểm để mang lại hiệu quả cao so với cùng một tầm tiền đầu tư.

Môt vài dòng nói trên thực sự chưa nhiều, mà chỉ là các thông tin khái quát nhất, cơ bản nhất , để nhận định và đánh giá về CHẤT LƯỢNG của âm thanh karaoke dành cho các cơ sở kinh doanh. Để đi sâu phân tích mổ xẻ thêm nữa thì e rằng trong khuôn khổ bài viết này không thể đủ được. Bởi còn rất nhiều các vấn đề có liên quan, góp phần đến sự thành công hay thất bại của cơ sở kinh doanh. Nhưng có thể khẳng định được rằng, với đại đa số các cơ sở kinh doanh chân chính thì chất lượng âm thanh là vấn đề quan trọng nhất, mặc dù tiêu tốn không nhiều tiền bằng đầu tư cở sở vật chất, trang trí, nội ngoại thất...

Công thức khi tự tạo 1 dàn loa Line Array DIY

DIY- do it yourself hay có nghĩa là tự làm lấy.

Với dân âm thanh nhà nghề thì 1 giàn loa Line Array và Power tốt luôn là 1 niềm mơ ước rất lớn.
Nhưng để có được giàn loa đồ hãng tên tuổi như Nexo, DAS, Dynacord, JBL, QSC, Martin Audio... thì cái giá cũng ở trên trời với rất rất nhiều người làm âm thanh, chưa kể giàn power công suất tương ứng đi kèm. Một bộ Line Array cỡ nhỏ và trung bình thì cũng phải có cơ số tối thiểu 6 cặp full + 2 cặp sub đôi.



Trong khi giàn power công suất lớn, chất lượng cao thì hiện tại đồ hãng vẫn là một lựa chọn bắt buộc. Nhưng với giàn loa thì sao, có thể DIY được hay không, với chất lượng và giá thành, hiệu quả sử dụng có chấp nhận được? Tất nhiên tất cả các driver vẫn phải là hàng hãng tên tuổi, DIY chỉ là nhiệm vụ tính toán kích cỡ, vật liệu làm thùng, bố trí sắp xếp các driver đã được lựa chọn...
Một vấn đề đặt ra nữa là thiết kế Passive Crossover trong loa, cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tái tạo âm thanh, phát huy hiệu quả phối ghép giữa các driver. Không tính toán được bộ phân tần này một cách chính xác thì chất lượng âm thanh sẽ rất tệ. Nhưng nhờ sự hỗ trợ của các thiết bị digital, thì Active Crossover và cấu hình hệ thống Bi-amp, Tri-amp sẽ là phương pháp thay thế. Hiện tại các giàn loa nói chung và Line Array nói riêng, muốn có chất lượng âm thanh tốt, đều chơi ở chế độ Active Crossover tối thiểu là Bi-amp + Sub, chứ hiếm khi chơi Full range.

Các size phổ biến của giàn Line Array là : SUB 15''/18'' + Lo MID/MID 8''/10''/12''/15'' + HI 2,5''/3''/4'', với trở kháng của Driver là 8/16/32 ohm.

Mỗi hãng sản xuất có một bí quyết công nghệ riêng để tạo nên chất âm thanh đặc trưng, với các bộ digital controller đi kèm đã được tính toán rất kỹ, thử nghiệm gắt gao trong các môi trường làm việc khác nhau, theo tiêu chí của họ đã đặt ra.

Giàn Line Array DIY dự tính sẽ có cấu hình như sau:
Sub dual 15'' hoặc 18'', voice coil 4'' ~ 4,5'' , 1000w RMS/driver , sensitivity > 96dB, neodymium hoặc ferrite magnet
Mid dual 12'', voice coil 3'' ~ 4'', 400w ~ 500w RMS/driver, sens > 97 dB, neodymium magnet
Hi exit 1,4'' ~ 2'', voice coil 3'' ~ 4'', 100w ~ 120w RMS, sens > 108dB, neodymium magnet, với bộ horn có góc phủ tối thiểu 90 x 40

Driver sẽ lưạ chọn các nhà sản xuất của US hoặc Italy.

Số lượng thùng loa tối thiểu : sub 03 cặp, mid/hi : 06 cặp

Mời các bác bàn tiếp cho hoàn thiện nhé , về các đặc tính kỹ thuật đặc thù của loa Line Array, cách phối ghép, lựa chọn driver ... tất cả mọi vấn đề có liên quan.

Dòng vang số "giá rẻ" của DBX: PA2

DBX vừa bày bán sản phẩm mới trong dòng digital controller giá rẻ : PA2.
Với khá nhiều tính năng nổi bật hơn người tiền nhiệm PA+, đặc biệt ở khả năng điều khiển thông qua điện thoại thông minh chạy iOS hay Android.



Sắp tới sẽ có đồ chơi để cùng trải nghiệm và đánh giá.
Dòng này dùng trong sân khấu nhỏ hoặc karaoke là tuyệt cú mèo.

Có thể dùng loa nghe nhạc để hát kara?

Em đã ghép và thấy rất ấn tượng với cấu hình như sau, cho phòng 22m2 :

  1. - Sub Klipsch SW 112
  2. - Amply Ja 203III
  3. - Loa Klipsch RB81 II x 2 cặp 
  4. - Power Amp nguồn switch China
  5. - Micro Shure ULX/SM58
  6. - DBX DriveRack PX
  7. - HDD Karaoke

Chất âm đều 3 dải, bass ấm cúng mềm mại, dải tần bass có thể xuống tới 40Hz, thông số này rất khó gặp trên các dòng loa kara truyền thống, trung âm chi tiết rõ nét mà không chói gắt, tép mềm mại mịn màng. Kết hợp với tiếng sub uy lực làm cho giọng ca trở lên dày dặn mạnh mẽ. Ở mức âm lượng lớn không bị vỡ tiếng, mặc dù chưa cần cân thiệp compressor/limiter trên cục DBX DR.
Đặc biệt dòng loa này khi nghe nhạc rất ổn, vì nó là dòng loa vẫn thường dùng để nghe nhạc. Và cả khi play dòng nhạc disco, dance, âm thanh rất tốt, với chỉ môt chút xíu can thiệp thêm về phần EQ trên DBX DriveRack. Hoặc nếu không, Bypass các chế độ EQ, âm thanh vẫn rất chất lượng cho cả phần hát và nhạc.
Nếu để so sánh tổng thể thì chắc chắn là sự lựa chọn tốt hơn so với các dòng loa cùng tầm tiền như BMB , Bose, JBL KS308, RM101, BIK, EV6.2 ...

Rõ ràng đây là một sự lựa chọn mới mẻ, và thực sự tốt cho các bác hát hò trong gia đình, các bác có cùng sở thích hát hò có thể ghé qua tệ xá cùng trải nghiêm và cảm nhận :)

Em nhớ khi đi đặt mua dòng loa này để về hát Karaoke, các bác bán hàng ở mấy chỗ (vì dòng này không sẵn như các loa kok truyền thống) trố mắt ngạc nhiên: Klipsch làm sao có thể hát kok được ??? Anh phải dùng Bose, BMB, JBL ... bla bla.
Em chỉ nói nhỏ với các bác bán hàng rằng : em chơi 1 mình 1 kiểu bác ạ :mrgreen: . Rồi để kệ các bác bán hàng lắc đầu ngán ngẩm.

Không phải tự nhiên mà 1 dòng loa vốn chỉ dùng để nghe nhạc có thể dùng được sang mục đích khác, khắc nghiệt hơn, là hát karaoke. Nó phải có các yếu tố kỹ thuật đảm bảo rõ ràng, dù là nhỏ nhất. Và dòng loa này hội tụ đủ những yếu tố cơ bản ấy. Đơn giản vậy thôi.

Nay em giới thiệu đến cho các bác, để có thêm sự lựa chọn tốt cho gia đình, phục vụ cho cái thú đam mê văn nghệ và thưởng thức âm nhạc

Và hiện tại em đang có sẵn 1 bộ ở nhà, các bác muốn hát thử cứ ghé qua nhé.

Vài dòng tản mạn đầu xuân. Chúc cả nhà ta một mùa xuân mới mạnh khoẻ, an khang, thịnh vượng, và có một đời sống tinh thần ngày một tốt hơn.

Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2017

Câu chuyện thương hiệu âm thanh Việt Nam: Paramax

GIỚI THIỆU


Paramax là thương hiệu âm thanh hàng đầu của Việt Nam, các sản phẩm của hãng rất đa dạng như loa, ampli, micro...

Với giá thành phải chăng cùng chất lượng đáp ứng tốt yêu cầu của người Việt Thương hiệu đã và đang là sự lựa chọn tin dùng của rất nhiều khách hàng Việt Nam.

Lịch sử thương hiệu paramax


[caption id="attachment_12541" align="alignnone" width="800"]Các sản phẩm thuộc thương hiệu paramax được hà phát audio phân phối với giá tốt nhất Việt Nam. thương hiệu Paramax[/caption]

Thương hiệu nào cũng ra đời từ khát vọng, đam mê của những người giàu nhiệt huyết, xuất phát điểm có thể cao hay thấp nhưng chắc chắn những thương hiệu có thể thành công đều được khẳng định theo thời gian trên thị trường. Từ hơn 17 năm trước, paramax đã mang trong mình khát vọng xây dựng một thương hiệu thiết bị karaoke dành cho người Việt thực sự được tin dùng.

Từ năm 1999 khi Việt Nam mới bước đầu mở cửa, khởi nghiệp của paramax là nhập khẩu sản phẩm từ các nước tiên tiến trên thế giới để phân phối tại thị trường Việt Nam. Qua đó nhận thấy nhu cầu lĩnh vực karaoke người Việt rất lớn nhưng giá cả các sản phẩm ngoại nhập lại khá cao không phù hợp với thu nhập của đại đa số người tiêu dùng. Điều này đã đặt ra những trăn trở cho chúng tôi một câu hỏi lớn: Tại sao chúng ta không sản xuất mà phải đi nhập khẩu từ nước ngoài? Paramax tin rằng người Việt hoàn toàn có thể sản xuất ra được những sản phẩm có chất lượng tương đương với giá bán sẽ hợp lý hơn nhiều hàng nhập khẩu.

Với định hướng cung cấp ra thị trường trọn bộ giải pháp karaoke chất lượng cao để mọi gia đình đều có những giây phút giải trí vui vẻ sau những giờ lao động vất vả. paramax biết một lúc không thể làm được ngay mà quá trình này diễn ra nhiều năm và công ty đã từng bước để hoàn thiện trọn bộ giải pháp karaoke chất lượng cao dành cho khách hàng. Trong nhóm các thiết bị của một dàn máy thì sản phẩm đầu karaoke là mảnh ghép cuối cùng để chúng tôi hoàn thiện định hướng đó sau quá trình nghiên cứu kéo dài gần 5 năm cùng đối tác chiến lược TJ Media-thương hiệu karaoke số 1 tại Hàn Quốc hiện nay.

Con đường xây dựng thương hiệu PARAMAX gắn liền với định hướng đó, trong quá trình phát triển khó tránh khỏi những thời gian thăng trầm nhưng bằng quyết tâm của những con người nhiệt huyết cùng sự hỗ trợ của các đối tác trong và ngoài nước đã giúp chúng tôi vượt qua để ngày càng nhận được sự tin dùng của khách hàng.

Thực tế mức thu nhập của người tiêu dùng sẵn sàng chi trả cho nhóm các sản phẩm karaoke có mức giá mà các thương hiệu ngoại đang bán không nhiều. Chính vì vậy, chúng tôi tập trung nghiên cứu để cho ra thị trường các sản phẩm thiết bị âm thanh karaoke chất lượng cao có giá cả hợp lý và mẫu mã phù hợp với thị hiếu của người sử dụng.

Thương hiệu nào cũng cần sự đồng hành của khách hàng và các đối tác trong quá trình phát triển, mong rằng PARAMAX tiếp tục nhận được sự ủng hộ của người tiêu dùng vì khát vọng phát triển của một thương hiệu Việt trên thị trường.

Hiện nay Hà Phát Audio là công ty phân phối các sản phẩm âm thanh paramax với giá thành tốt nhất trên thị trường hiện nay.

Văn hóa thương hiệu Paramax





Nét văn hóa đặc trưng của PARAMAX là coi trọng “thái độ” ứng xử “4T” bao gồm:





TÍCH CỰC – TÔN TRỌNG – TRUNG THỰC – TẬN TÂM


  • TÍCH CỰC: Thái độ tích cực nghĩa là suy nghĩ tích cực, tư duy tích cực, sáng tạo tích cực. Chúng tôi tự tin rằng trong lĩnh vực karaoke người Việt Nam hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ, đủ khả năng để đưa ra thị trường những sản phẩm ưu việt.

  • TÔN TRỌNG: Trong môi trường mọi người tôn trọng lẫn nhau, giá trị nhân văn, giá trị văn hóa dân tộc được đề cao. Trong đó đặc biệt tôn trọng các giá trị quản trị, các quy định của tổ chức.

  • TRUNG THỰC: Trung thực và thẳng thắn trong suy nghĩ, trong hành động việc làm. Hãy trung thực từ những việc nhỏ bởi một phần sức mạnh của tổ chức nằm ở đó.

  • TẬN TÂM: Hết lòng hăng say trong lao động, làm việc hết khả năng của mình vì mục tiêu chung của tổ chức.


Tầm nhìn


Định hướng PARAMAX trở thành thương hiệu Việt uy tín được khách hàng tin dùng trên thị trường thiết bị âm thanh karaoke tại Việt Nam.

Sứ mệnh


paramax sản xuất và phân phối ra thị trường các sản phẩm có chất lượng cao nhất so với tầm giá cùng dịch vụ chăm sóc khách hàng dẫn đầu thị trường.

Giá trị cốt lõi của paramax


  • Karaoke: Lĩnh vực cốt lõi để đầu tư phát triển.

  • Chuyên nghiệp: Tính chuyên nghiệp thể hiện trong phong cách, chất lượng sản phẩm và dịch vụ khi PARAMAX cung cấp tới người sử dụng.

  • Tối đa lợi ích vì khách hàng: Chúng tôi luôn cố gắng để cung cấp ra thị trường các sản phẩm có chất lượng cao nhất trong tầm giá cùng dịch vụ chăm sóc khách hàng dẫn đầu thị trường.

  • Đổi mới sáng tạo: Không ngừng đổi mới để hiệu quả hơn, khuyến khích sáng tạo ở mỗi nhân viên để tạo ra những đóng góp có giá trị lớn.

  • Niềm vui: PARAMAX mong muốn mang lại giây phút giải trí đích thực, thực sự đem đến niềm vui cho khách hàng khi sử dụng các sản phẩm karaoke của mình đúng như ý nghĩa slogan "It’s real joy".


Các bạn có thể xem thêm các câu chuyện về những thương hiệu âm thanh nổi tiếng thế giới tại đây.

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2017

Mua dàn âm thanh nào với tầm giá 40 triệu?

Với giá khoảng 2.000USD, nên mua một bộ dàn âm thanh nào? Đầu đọc nào, ampli rời hay tích hợp, hiệu loa nào hay, và trên hết là ghép chúng với nhau như thế nào cho hiệu quả… là câu hỏi của không ít người mua. Chúng tôi sẽ cùng các bạn chọn một bộ dàn nghe nhạc được coi là có phong cách trong tầm tiền đó.

Với mục tiêu sắm một bộ dàn nghe nhạc stereo đời mới, 2.000USD là số tiền đủ để chúng ta cân nhắc và lựa chọn một số phương án. Hiện nay trên thị trường Việt Nam, các sản phẩm hi-fi đã bắt đầu phong phú hơn trước. Ngoài những tên tuổi như: Sony, Denon, Marantz, Jamo, B&W… đã trở nên quen thuộc và chiếm được tình cảm của nhiều người nghe nhạc, một số thương hiệu mới cũng xuất hiện. Một trong những sản phẩm có mặt trên thị trường vào cuối năm 2005 là đầu đĩa CD và ampli của hãng Rotel, nhà sản xuất thiết bị âm thanh từ Anh Quốc với lịch sử hơn 40 năm.

Thoạt nhìn, những sản phẩm Rotel cũng bề ngồi rất đơn giản. Hai sản phẩm mà chúng tôi lựa chọn lần này là đầu đĩa RD-02 và ampli tích hợp RA-02. Chúng đều có hình dung mảnh mai, với độ dày chỉ có 7cm. Mặt máy màu sáng kim loại với các nút điều khiển truyền thống. Kết cấu tuy giản dị, dễ điều khiển nhưng lại không có các điểm nhấn trong design nên đôi khi sản phẩm Rotel không “giữ” được ánh mắt của những khách hàng khi chúng được bày trên cùng giá máy với những thương hiệu như Denon, Marantz… vốn dày dặn và nhiều chi tiết bắt mắt hơn.

ĐẦU ĐỌC RCD-02

Đầu đọc RCD-02 là đầu đọc loại một đĩa, được chế tạo chuyên để phục vụ nhu cầu thưởng thức âm thanh 2 kênh. Cửa đĩa nằm ở vị trí giữa mặt máy bằng hợp kim nhôm. Bên trái chỉ có duy nhất nút công tắc nguồn, còn màn hình hiển thị và nút điều khiển đều thiết kế tập trung bên phải của mặt máy.
Bên trong của RCD-02 có một bo mạch in lớn chiếm toàn bộ phần giữa và bên phải máy. Đây là bo mạch chính, trên đó có các mạch điện nguồn, điều khiển phần cơ, xử lý tín hiệu số, DAC và phần analog đầu ra. Biến thế nguồn nằm riêng trên một bo mạch bên trái, cách xa bo mạch chính để hạn chế nhiễu xoay chiều. Phần lớn các IC dùng trong máy (DAC, giải m HDCD, bộ lọc số…) đều là sản phẩm của nhà sản xuất bán dẫn danh tiếng Burr-Brown.

Nhìn một cách tổng thể, đầu đọc RCD-02 đươc làm một cách cẩn thận và chắc chắn. Các linh kiện sử dụng không quá cầu kỳ nhưng được chọn lọc khá kỹ. Các tụ hóa đặc biệt trong máy do một hãng chế tạo danh tiếng ở Anh Quốc cung cấp. Biến thế nguồn vẫn sử dụng loại cách li thông thường. RCD-02 cũng được thiết kế để phục vụ nhu cầu nghe CD 2 kênh phổ thông nên nó không có chức năng đọc đĩa DVD hoặc SACD.

AMPLI RA-02

Phát triển trên cơ sở của sản phẩm RA-01, ampli Rotel RA-02 có thiết kế giống y hệt như RA-01, chỉ có một điểm khác biệt duy nhất đó là model RA-02 có thêm bộ  điều khiển từ xa. Cũng giống như dầu đọc RCD-02, những ai kỳ vọng vào một sản phẩm ampli với tầng tầng lớp lớp các vỉ mạch và linh kiện dày đặc sẽ không cảm thấy thỏa mãn khi quan sát bên trong chiếc RA-02 này.

Bên trong máy, một biến thế nguồn xuyến nằm ở góc trái ampli, còn lại tất cả các mạch điện chủ yếu của ampli, từ mạch vào, tiền khuếch đại, điều khiển, mạch công suất, thậm chí cả mạch phono đều nằm trên một bo mạch chính.
Cũng giống như đầu đọc RCD-02, các linh kiện cấu thành nên ampli tích hợp RA-02 cũng không có gì thật sự khác biệt, việc lựa chọn và phối hợp tốt giữa các linh kiện đã làm cho sản phẩm có độ tin cậy cao. Máy sử dụng hai đôi sò than B 817/D1047 cho công suất ra danh định là 40W/một kênh của tầng công suất.

LOA B&W 602S3

Với thị trường Việt Nam, nếu như Rotel chỉ là “tay mới” thì ngược lại thương hiệu B&W đã trở nên khá quen thuộc với những người yêu nhạc. B&W sở hữu một gam sản phẩm rất phong phú các chủng loại loa, từ hàng bình dân dăm bảy trăm USD cho đến các loa cao cấp hàng chục ngàn USD
B&W 602S3 là cặp loa được coi là hàng bình dân. Loa có thiết kế dạng bookshelf, thích hợp với các không gian nghe nhạc không rộng quá 25cm2. Để B&W 602S3 phát huy kết quả tốt, bạn cần đặt cặp loa này lên một kệ sắt chắc chắn cao ngang tầm tai người nghe.

Loa B&W 602S3 có cấu tạo hai đường tiếng. Loa treble đom nhôm có vành nhún bằng xốp tạo độ linh hoạt cao, dải tần cao của loa B&W 602S3 có thể tải được lên đến hơn 22kHz với một độ trong trẻo khá tốt. Loa mid-bass của B&W 602S3 có chất liệu màng dệt bằng sợi Kevlar. Chúng tôi đã có nhiều bài viết về dạng loa B&W, trong đó phân tích khá kỹ về ưu điểm quan trọng nhất của sợi Kevlar là làm cho màng loa được nhẹ mà chắc. Nhờ tiếng trung của loa màng Kevlar tươi sáng, rất thích hợp với các thể loại nhạc tiết tấu nhanh, đòi hỏi sự chi tiết sắc sảo.

PHỐI GHÉP VÀ NGHE ĐÁNH GIÁ

Chúng tôi đặt đầu đĩa và ampli Rotel lên một kệ gỗ mặt kính, loa B&W 602S3 cũng được đặt lên kệ loa ngang tầm tai nghe. Dây tín hiệu và dây loa là Chrysalis và Carnival Silver đều của hãng Chord (Anh Quốc).
Đã nhiều lần nghe thử loa B&W 602S3 phối ghép với ampli tích hợp của Denon trong tầm tiền 500 – 1000USD, chúng tôi đã khá quen thuộc với chất âm của cặp loa book-shelf này. Nhưng với bộ đôi Rotel RCD-02/RA-02, màn trình diễn tổng thể của âm nhạc lại mang một màu sắc hòan tòan mới mẻ. Thực sự chúng tôi đã ngạc nhiên trước khả năng tái hiện chi tiết rất tốt trong dải trung âm và dải cao của hệ thống Rotel. Với bất kỳ đĩa nhạc nào, giọng hát hay âm thanh của các nhạc cụ cũng đều được bóc tách rất rõ ràng. Với bộ đôi Rotel, loa B&W 602S3 thể hiện được hoàn hảo nhất những ưu thế chủ yếu trong khả năng trình diễn của mình. Độ nét của bộ Rotel, dây dẫn Chord và loa B&W 602S3 đã tái hiện được một không gian âm nhạc giàu chi tiết và khá sống động.

Với công suất ra mỗi kênh chỉ có 40W, Rotel RA-02 đương nhiên không phải là một chiếc ampli có “nội lực” thâm hậu. Tiếng bass của bộ dàn thử nghiệm này cũng xuống được mức làm hài lòng đa số thính giả. Mặc dù tiếng bass của dàn âm thanh không được mềm, nhưng bù lại chúng có tiết tấu rõ ràng, hòan tòan không bị nhiễu hay lẫn lộn các nốt của nhạc cụ bè trầm. Rõ ràng với sự phối ghép như trên, nếu bạn là người mê nghe các giọng ca nữ, hoặc các nhạc cụ độc tấu, hòa tấu của dàn dây, bạn sẽ cảm thấy khá hài lòng khi thưởng thức. Tiếng đàn gui-tar, tiếng violon đều rất rõ ràng, với một màu âm trong sáng. Thế nhưng, khi nghe những bản nhạc có những bè cực trầm của contra-bass, những bản nhạc ghi tiếng trống trầm hùng, hoặc giọng hát nam trầm… thì dàn âm thanh này vẫn không tạo ra được màu âm đúng, sự quyến rũ và rung cảm của người nghe với phần trình diễn vì thế cũng bị ảnh hưởng phần nào.

KẾT LUẬN

Với mức giá cho cả hệ thống chỉ trên dưới 2.000USD, tất nhiên ta không nên đòi hỏi nhiều vào dàn âm thanh Rotel và B&W, nhất là với những ai thích nghe chất âm trầm ấm, ngọt ngào. Nhưng những gì mà dàn âm thanh thử nghiệm đã đem lại thực sự là rất ấn tượng, nếu chúng ta so với những sản phẩm hi-fi cùng ngang tầm giá. Những “công dân” của xứ Sương mù: Rotel, Chord và B&W đã đem lại cho người nghe một màn trình diễn rất “Anh Quốc” – với vẻ nhã nhặn bên ngoài nhưng lại có sức quyến rũ rất riêng… Trong đó độ chi tiết, tính tách bạch trong toàn dải âm, đặc biệt là sức hút của trung âm có thể coi là một thành công và là một thế mạnh không thể phủ nhận của dàn âm thanh này.

 
Trở lên trên