CẬP NHẬT
Hiển thị các bài đăng có nhãn How. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn How. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2018

Làm thế nào để kết nối dây tín hiệu cho dàn karaoke gia đình mini

Hướng dẫn kết nối dây tín hiệu cho dàn âm thanh sân khấu mini. dàn karaoke mixer mini này sử dụng trong diện tích 20 - 100m2. 



Cấu hình :
- Mixer soundcraft MFX 12/2
- dbx 223xl
- lọc dbx 1231
- cục đẩy công suất ATI A7500





Thông Tin nguồn :
__________________________________________________________
Cty Thanh Huy Audio
Đ/c 670 Lũy Bán Bích, P.Tân Thành, Q.Tân Phú
Zalo & điện thoại: 0933 991 244
----------------
Youtube: https://www.youtube.com/c/ATIAudio
Fanpage: https://www.facebook.com/Ctyamthanhanhsangthanhhuy

Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2018

Làm sao để nghe được nhạc Lossless trên PC và Laptop?

Làm sao để nghe được nhạc Lossless trên PC, laptop? 


Khi một ngày đẹp trời, người bạn gửi đến bạn một file âm thanh Lossless. Rất nhiều người đã phải bậc thốt lên hoặc lên google search hướng dẫn để mở file nhạc Lossless tren PC hoặc Laptop. Trong bài viết này, mình sẽ giúp bạn trả lời "làm sao để nghe được nhạc Lossless trên PC và Laptop ?"


File nhạc Lossless là gì ?

File nhạc Lossless là gì ?

Trong công việc hàng ngày với máy tính, hẳn không ít lần bạn đã nén 1 file tài liệu gửi cho đồng nghiệp. Có thể bạn đã sử dụng Zip hoặc Rar làm định dạng nén.

File tài liệu được bạn nén sau khi qua Zip hoac Rar sẽ trở nên nhỏ hơn rất nhiều nhưng khi người nhận nhận đc file, họ sẽ giải nén và có được file tài liệu gốc mà bạn đã tạo. Vậy Zip va Rar đã làm gì? Nói đơn giản, đó là những thuật toán nhằm tìm ra những quy luật lặp của dữ liệu từ đó tìm 1 cách hiển thị khác tối ưu hơn, tốn ít dữ liệu hơn. (ví dụ ta có chuỗi: aaaaa bbbbbbb aaa 11111 , bạn thấy rằng cách diễn giải tốt hơn nhiều mà tốn ít chữ hơn là ax5 bx7 ax3 1x5). Đấy là 1 ví dụ rất đơn giản để bạn hiểu, còn thì nó phức tạp hơn rất nhiều. Như vậy khi người nhận nhận file và giải nén, Zip và Rar đóng nhiệm vụ sử dụng những chuỗi dữ liệu nén đấy tập hợp và tạo lại file gốc ban đầu.

Đó cũng là mục đích của định dạng âm thanh nén không mất dữ liệu (lossess compression). Với cấu trúc trên của zip hoặc rar thì bạn có thể thấy rõ ràng đối với lossless audio nó lấy đầu vào là âm thanh gốc của CD, cố gắng tìm ra những quy luật âm thanh và nén nó lại. Việc nén lại này là không cao vì dữ liệu âm thanh rất đa dạng và sử dụng nhiều dữ liệu. Hiện tại mức độ nén cao nhất có thể của kĩ thuật nén không mất dữ liệu là bằng khoảng 1/3 dung lượng của âm thanh gốc, còn thông thường sẽ là 1/2. Do đó mỗi album lossless sẽ có dung lượng khoảng 200 đến 300 Mb.

Khi giải nén hoặc khi nghe lossless điều chắc chắn ta đạt được đó chính là tín hiệu gốc của âm thanh CD (44.1Khz, 16bit, 1411Kbps) . Điều này là cứu cánh cho mọi người yêu âm nhạc luôn đòi hỏi âm thanh trung thực nhưng không có điều kiện có CD gốc hoặc muốn sử dụng máy tính làm nơi lưu trữ albums.

Các định dạng lossless:

FLAC: Free lossless audio codec: là một định dạng khá được ưa chuộng hiện nay và cũng có khá nhìu máy nghe nhạc hỗ trợ định dạng này, việc giải mã flac không phụ thuộc vào quá trình mã hóa, tức là mã hóa chậm nhưng giải mã vẫn khá nhanh, flac hiện nay có 9 level chia theo mức độ từ 0-8, và bitrate giao động trong khoảng 600- 1100 kbps, ở level càng cao thì thời gian mã hóa càng lâu để dung lượng giảm xuống.
Có lẽ các bạn sẽ nói dung lượng và bitrate giảm thì chất lượng sẽ giảm chứ. Không, nó như kiểu nén file với winrar, file nén nhỏ đi rất ít nhưng vấn phục hồi nguyên gốc của file ban đầu, flac cũng vậy, chúng ta vẫn khôi phục được về wav để ghi đĩa mà không mất đi dữ liệu như mp3.

APE: Monkey's audio: Đây cũng là định dạng lossless thông dụng, tuy nhiên nó chưa phổ biến trên các máy mp3 bằng flac vì một chip âm thanh giải mã mp3 là hiển nhiên và việc giải mã flac không phức tạp hơn mp3 bao nhiêu, vì thế chẳng ngại gì mà các nhà sản xuất không đưa flac vào chip âm thanh, với APE thì khó hơn, hiện nay các máy cowon và sansa có hỗ trợ APE.

ALAC còn gọi là M4A - định dạng nhạc nén của Apple: Định dạng này được sáng lập bởi apple, dành riêng cho các thiết bị của họ, sau này nó trở nên phổ biến hơn khi được sử dụng trên các thiết bị của hãng khác, tuy nhiên vẫn không phổ biến như flac hay Ape.

FLAC khác gì APE ? Điều này cũng giống nhu bạn so sanh Zip với Rar ở chỗ thằng nào cũng lossless nhưng giải thuật và hãng tạo nên là khác nhau, độ phức tạp của ape hơn flac. Hiện tại Flac đang thắng thế, maximum compression của Flac vào khoảng 1/2 file wave gốc. Nhưng cần nhắc lại rằng chất lượng của nó là như nhau và bằng file gốc.

Còn vài định dạng không thông dụng và rất ít gặp nên không được đề cập đến, chỉ nói tới những định dạng chúng ta hay gặp trên mạng và hay dùng mà thôi.

Làm sao để nghe được nhạc Lossless trên PC, laptop?

Phần mềm nghe nhạc Foobar 2000

Foobar2000 dù trình diện rất đơn giản nhưng được xếp vào hạng Audiophile - PC,  thậm chí thật ko quá khi nói nó là phần mềm playback audio trên PC hay nhất hiện nay. Và đặc biệt, nó có thể rip từ loseless -> lossy với biterate cao ngất ngưỡng ( max khoảng 400kbps - VBR, 512kbps - ABR). Vì vậy, nên dùng F2k khi nghe hoặc rip audio bởi: đơn giản- dể dùng- hay - miễn phí.

Chú ý: ( sưu tầm một bác khá già làng bên VOZ) :
có 1 sự thật ta phải chấp nhận đó là đừng xài máy tính để nghe nhạc nếu muốn nghe sự khác biệt. Với soundcard bình thường hoặc build-in vào trong board độ noise của âm thanh rất cao vì PC hay thậm chí laptop là một thiên đường tạo ra Noise với vô số linh kiện điện tử. Muốn loại trừ cái này mà vẫn xài Computer thì phải ráng sắm cái external DAC và dùng USB để output raw audio ra xa khỏi pc rồi mới dùng cái box đó để biến nó thành âm thanh. Có thể mới bớt noise.

- Và cũng đừng nghĩ cái player này nghe nhạc hay cái kia thì không. Nó có thể tốt hơn về sự tiện dụng về cách cấu trúc quản lý nhưng output thằng nào cũng giống như thằng nào (trừ sử dụng filter để thay đổi chất lượng nhưng nó là cheat và lợi bất cập hai). Sự khác nhau lớn nhất nằm ở Noise control và DAC nhưng những cái đó không dính gì đến 100% digital của máy tính.

Dân chơi khoái xài Foobar trên Win vì nó cho phép chọc ngoáy và chỉnh sửa bất cứ công đoạn nào từ khi nhận input đến khi ra thành phẩm cuối cùng và vì vậy nó rất thuận lợi cho những người thích drive cái chuỗi decode theo ý mình. Nhưng nếu để default không chính sửa thì nó chẳng khác quái gì cái player bèo nhất trên PC.

Thứ Ba, 26 tháng 9, 2017

Mẹo cải thiện chất lượng âm thanh lưu trên thẻ nhớ


Một típ nhỏ để giúp các bạn cải thiện thêm chất lượng nhạc từ thẻ nhớ, và hoạt động ổn định hơn nhằm kéo dài tuổi thọ của DAP và thẻ micro SD. Thoạt nghe có vẻ giống như một bài quảng cáo hay scam tuy nhiên chúng ta hãy cùng xem (QC Dàn âm thanh gồm những thiết bị gì? )



1. Back-up nhạc trong thẻ vào máy rồi format thẻ micro SD thành exFAT với 128Kb allocation unit size

2. Chép nhạc của bạn lại vào trong thẻ.

3. Sử dụng phần mềm DiskFresh để refresh lại các dữ liệu đã được chép trực tiếp mà không cần partition mapping (nói chung là read & refresh lại các sector trên ổ cứng và thẻ nhớ) (QC Dàn âm thanh gồm những thiết bị gì? )

Chỉ với ba bước này bạn có thể nhận thấy thiết bị của mình trở nên ổn định hơn với nền âm sạch hơn tuy nhiên mình chỉ thử với các DAP (ak120, X5-II) còn smartphone thì chưa thử. Cá nhân mình nghĩ các bạn nên thử refresh lai chiếc thẻ nhớ của mình và tự mình cảm nhận xem âm thanh có hay hơn không vì việc này bạn có thể làm rất nhanh mà hoàn toàn miễn phí.
Quảng cáo:  Dàn âm thanh gồm những thiết bị gì? 

Thứ Hai, 25 tháng 9, 2017

Cần phải đàn những gì khi đệm hát?

Để đệm đàn được hay thì bạn nên có kiến thức về hợp âm để có thể sử dụng thành thạo khi đệm hát. Nếu bạn đang dùng đàn Yamaha 450 có phần đệm tiết tấu tự động thì tay trái thường chơi hợp âm với tiết tấu chọn phù hợp với bài hát, tay phải thường chơi dạo nhạc ở đầu bài rồi khi vào hát ta có thể dùng một số âm sắc để chơi bọc lót cho giai điệu hát chính. Chẳng hạn như chỗ nào hát ngân dài thì ta có thể thêm một câu nhạc chen vào đó. Câu nhạc này được bạn tự sáng tác ra dựa trên cơ sở hợp âm bên tay trái. Bước đầu tay phải hãy chơi những nốt của bên tay trái thôi, sau đó mở rộng dần với các nót khác.
Hãy cố gắng chơi tốt phần tay trái đã, phần tay phải chỉ chơi câu dạo nhạc thôi.
Một mẹo hay là nếu câu hát ngân dài thì bạn có thể chèn thêm chính giai điệu của câu hát đó, tạo nên sự nhại lại câu hát đó vậy. Bước đầu nên nghe và bắt chước băng đĩa đã, sau đó ta sẽ tự đệm theo kiểu của riêng mình.

Trên  thực tế, đệm những gì là đều do sự tưởng tượng và khả năng của chính bạn. Không có một giới hạn nào cho việc bạn đệm những gì....

Ngoài ra việc nghe nhiều cũng giúp ta học hỏi được nhiều, những vẫn cần nghiên cứu lý thuyết thì mới áp dụng trên thực tế được.
Chúc thành công!

Thu thanh trên sound onboard bằng phần mềm cubase bị trễ phải làm sao?

Vì bạn sử dụng sound card onboard để thu thanh nên không hỗ trợ driver cho cubase, do vậy nếu tiếng bị trễ, bạn cài ASIO4ALL (asio4all.com) thì hết trễ (có thể chỉnh buffer khoảng 256 là OK). Nếu muốn monitor để khi hát nghe được giọng của mình thì bạn nên đeo headphone khi thu thanh, vì nếu không tín hiệu sẽ bị bắt ngược vào micro tạo nên vòng lặp (loop) nên dễ bị hú hay bị bắt cả nhạc vào kênh hát luôn.

Trong Cubase 2, để chỉnh độ trễ thường ta vào Device - Device setup - Chọn VST multitrack bên trái, sau đó nhấn chọn ASIO Driver và nhấn control Panel để chỉnh buffer từ cửa sổ hiện ra.

Tuy nhiên ai dùng Cubase 3 thì sẽ chỉnh trong Device - Device setup - Chọn VST Audiobay. Sau đó chọn ASIO4ALL bên phải, mục Master ASIO Driver. Mục Control Panel thì trong cubase 3 lại phải nhấn xuống dòng dưới của VST Audiobay sẽ thấy.

Làm thế nào để luyện nghe nhạc

Bạn hãy bắt đầu từ việc nghe từng nốt một. Sau đó tới luyện nghe quãng, giai điệu, rồi hợp âm... Quá trình này cần thời gian và sự kiên trì. Nếu được người thầy nào đó hướng dẫn thì sẽ nhanh tiến bộ hơn.

Hãy tưởng tượng, mỗi một cao độ như một màu sắc mà mắt ta có thể nhận biết được từng màu riêng biệt. Vì thế tai chúng ta cũng có thể nghe được từng cao độ ấy. Vấn đề nằm ở chỗ phải nhận biết từng cao độ một và nhớ nó vào trong bộ óc để sau này gặp phải cao độ ấy, tai chúng ta sẽ nhận biết được.


Nếu ta từng học ngoại ngữ thì hẳn cũng biết là kỹ năng nghe là kỹ năng khó nhất. Đây là thử thách lớn nhất đối với người học ngoại ngữ. Nếu ta nghe được người nước ngoài nói gì, hẳn ta đã hiểu và nói chuyện được. Nhưng nếu không thể nghe được họ nói gì thì sẽ ra sao? Sẽ không bao giờ có thể nói chuyện được.

Việc học nốt nhạc của chúng ta thường dừng lại ở chỗ nhận biết nó bằng mắt. Có nghĩa là nhìn thấy nốt nhạc và nhận biết đó là nốt gì, rồi sau đó có thể chơi nó trên đàn. Còn khả năng có thể hát đúng cao độ (không cần đàn) và nghe được nốt ấy khi người khác chơi... là một vấn đề khác.

Kỹ năng nghe là một kỹ năng tổng hợp nhất. Nó chỉ có thể tốt nếu các kỹ năng nhìn, đọc, hiểu, thực hành... ta đã làm tốt.

Nếu tự học thì có thể sử dụng các phần mềm luyện nghe như:

http://www.trainear.com/

http://www.good-ear.com/

http://www.earmaster.com

http://www.teoria.com/exercises/ie.htm

http://www.musictheory.net/exercises/ear-chord

http://www.trainear.com/Ear_Training_Software_Comparison_07_2008.php

http://www.solfege.org/Solfege/Download

Đặc biệt có thể học nghe cao độ chuẩn (PERFECT PITCH) theo phương pháp của David Lucas Burge: http://www.perfectpitch.com/

Chúc bạn thành công!

Thứ Sáu, 30 tháng 6, 2017

Kỹ thuật giảm nhiệt độ của amply

Giải nhiệt là một phần rất quan trọng trong hoạt động của amply. Nếu bộ phận giải nhiệt tốt amply không những chỉ hoạt động tốt mà còn có được độ bền cao.
Vì vậy, trong những năm gần đây chúng ta thấy rất nhiều amply có bộ phận giải nhiệt được đưa ra thị trường. Nhưng làm cách nào để có được một ampli với bộ phận giải nhiệt tốt. Chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn kỹ thuật giải nhiệt hiện đại nhất và tốt nhất mà hãng PEAVEY vừa cho ra đời cùng với amply công suất GPS 1500 và GPS 900.

Không khí nén và những phễu nhiệt

Các chuyên viên kỹ thuật của hãng PEAVEY nhận thấy rằng kỹ thuật giải nhiệt thụ động hay giải nhiệt nhờ vào đối lưu không khí đều không thích hợp để giải quyết độ nóng tập trung ở amply. Vì thế các chuyên gia cho rằng giải nhiệt bằng không khí nén là phương pháp tối ưu nhất. Trong khi phân tán nhiệt là trọng tâm của kỹ thuật giải nhiệt thụ động thì ở kỹ thuật giải nhiệt bằng không khí nén, bạn cần phải mang những nguồn nhiệt lại gần nhau để kiểm soát bộ giải nhiệt tốt hơn.

Làm cách nào để mang những nguồn nhiệt lại gần nhau ?

Kỹ thuật trước đây là dùng một “phểu nhiệt” với cấu trúc gồm một quạt hút không khí từ ngoài khung vào một đường dẫn. Không khí mát bên trong đường dẫn này sẽ chảy qua các lá tán nhiệt và hút sức nóng từ những lá tán nhiệt bằng những va chạm. Vì vậy khi không khí thoát ra khỏi phểu sẽ nóng gấp mười lần khi vào.

Các nhà nghiên cứu đã thử đưa ra một giải pháp khác là dùng một phểu tập trung nhiệt độ ở trung tâm, hay hai phểu nóng được điều khiển bởi một quạt. Nhưng gặp phải vấn đề nan giải là: Bởi vì phểu ngắn nên không có sự chênh lệch về nhiệt độ dọc theo chiều dài của nó. Nếu không có sự chênh lệch về nhiệt độ thì khi không khí thoát ra cũng ở cùng nhiệt độ như khi nó vào. Kết quả là sẽ không có không khí nóng nào được chuyển sang không khí mát.

Vấn đề khó khăn trong việc sử dụng không khí nén để làm mát thiết bị là làm cách nào để cân bằng nhiệt độ của thiết bị dọc theo chiều dài của “phểu nhiệt”. Ở những amply công suất cao bạn thường có thói quen nối các thiết bị công suất song song. Vì thế nếu một thiết bị nhận ít không khí mát hơn những cái khác, nó sẽ nóng hơn, giống như một mắc xích yếu nhất trong một chuổi nó sớm đạt đến nhiệt độ cao nhất và hư trước nhất. Kỹ thuật này có thể tạo nên một sự khác biệt to lớn trong toàn bộ quá trình hoạt động của đường ra amply vì bị giới hạn bởi thiết bị nóng nhất đó.

Thậm chí nếu các thiết bị công suất có cùng một đường vào không khí, thì không khí mát sẽ lấy sức nóng khi đi qua những thiết bị đầu tiên và trở nên nóng hơn. Không khí nóng hơn này không thể hút sức nóng tốt ở những thiết bị sau. Giải pháp cho việc cân bằng sự chênh lệch về nhiệt độ trong một phểu nhiệt là điều chỉnh độ dài của máng xả nhiệt.

Thế nhưng việc sản suất những cái phễu đạt chất lượng như thế thì rất khó khăn và phức tạp . Vì vậy những chuyên gia kỹ thuật với hơn 30 năm kinh nghiệm của hãng PEAVEY đã tìm ra một giải pháp tốt hơn. Đó là :

Bộ giải nhiệt TURBO – V

Được sử dụng trong Amply công suất GPS – 900 và GPS - 1500
Bằng cách đẩy hai máng xả nhiệt lại gần nhau tạo nên một hình chữ V thì sự chuyển nhiệt sẽ tăng ở đầu hẹp của chữ V và không khí mát sẽ vào ở đầu rộng của chữ V.

Khi không khí mát di chuyển qua phểu để hút nóng, những vách ngăn của máng tỏa nhiệt sẽ di chuyển lại gần với nhau, gia tăng sự va chạm với không khí. Những va chạm này giúp không khí nóng hơn tỏa ra một lượng nhiệt bằng với lượng nhiệt đã hút trước đó. Lúc này không khí nóng nhất sẽ di chuyển xuống đáy phểu và sự chuyển đổi sức nóng đạt đến mức cao nhất.

Kết quả là tất cả các thiết bị hoạt động gần như ở cùng một nhiệt độ và amply có thể làm việc nhiều hơn trước khi thiết bị công suất trở nên quá nóng.

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

Cách hoạt động của Crossover-bộ phân tần

Hầu hết các hệ thống loa truyền thống đều có crossover (bộ phân tần) để đảm bảo mỗi củ loa chỉ hoạt động trong khoảng tần số phù hợp mà chúng được thiết kế. Bộ phân tần có chức năng chia đúng tần số cho mỗi củ loa theo thiết kế kỹ thuật của củ loa đó.

Đa phần thiết bị loa đều có bộ phân tần (crossover) của riêng thiết bị để đảm bảo mỗi củ loa chỉ hoạt động trong khoảng tần số phù hợp. Tuy nhiên, để đảm


Việc tìm hiểu cơ chế hoạt động của crossover  cũng có nhiều điều rất lý thú, nó giúp chúng ta nâng cao hiệu năng của hệ thống, đồng thời tránh được những hư hại không đáng có cho bộ dàn. Dưới đây là một số điều bạn nên biết về crossover khi sử dụng chúng trong bộ dàn.

Nguyên tắc phân tách kênh 

Ngoại trừ loa Bose, rất nhiều hệ thống loa hiện nay sử dụng các củ loa không đồng nhất về kích thước, dải tần thiết kế nhằm tái tạo đầy đủ các dải âm tần. Ví dụ: hệ thống âm thanh trình diễn (PA: Public Address) đơn giản có thể gồm một củ bass/trung 12-inch hoặc 15-inch và đi kèm một củ tép kiểu kèn.
Những hệ thống âm thanh cỡ lớn hoặc hệ thống có thùng  loa trầm riêng biệt có thể chia thành nhiều dải tần, trong đó các loa bass có thể đảm nhiệm dải tần từ 120Hz trở xuống. Điều này giúp cho các củ loa hoạt động đúng với khoảng dải tần thiết kế. Trong toàn bộ dải âm tần thì năng lượng sóng âm tần số thấp (bass) lớn hơn đáng kể so với sóng âm tần số cao. Ví dụ với một loa trầm 1000W thì loa trung chỉ cần khoảng 200-300W và loa treble 50-100W.

Mạch phân tần là một thiết bị trong hệ thống âm thanh, với mục đích chuyển tải đúng dải tần mong muốn tới củ loa tương ứng. Có hai loại mạch phân tần: chủ động (thường là thiết bị rời lắp trước khi chuyển tín hiệu vào amply) và thụ động (lắp trong thùng loa, thường gặp trong các loa hi-fi truyền thống). Phân tần thụ động được lắp giữa loa và ampli, nghĩa là nó có nhiệm vụ chuyển tải toàn bộ năng lượng điện do ampli cung cấp cho các loa. Trong hệ thống loa hai đường tiếng, dải tần được chia thành 2 phần: phần tần số cao sẽ đi vào củ loa tép, phần tần số thấp đi vào củ loa trung/bass. Với hệ thống 3 đường tiếng, hệ thống sẽ có 3 loa phụ trách 3 đường tiếng bass/trung/tép và lúc này, bộ phân tần sẽ chia tín hiệu ra thành 3 dải tần riêng biệt khác nhau.

Phân tần không chỉ cải thiện chất lượng âm thanh của bộ giàn, nó còn có tác dụng bảo vệ củ loa tép khỏi các tần số thấp đi vào. Các củ loa mid và bass hầu như không bị hư hại do tác động của tín hiệu âm thanh tần số cao, tuy nhiên chất lượng tái tạo âm thanh tổng thể thì bị ảnh hưởng rõ rệt vì lúc này củ loa hoạt động với dải âm tần không đúng với thiết kế-chế tạo ban đầu.

Phân tần thụ động (được tích hợp sẵn trong các dòng loa)

Bộ phân tần crossover là một tổ hợp các mạch lọc tín hiệu điện thụ động. Trước hết ta quan niệm một bộ phân tần đơn giản nhất gồm các tụ điện, điện trở và cuộn các cuộn cảm.

Bộ phân tần thụ động thường lắp bên trong các thùng loa, do đó tất cả những gì người ta phải làm là chọn một ampli thích hợp về công suất, trở kháng… để phối ghép với loa sao cho hợp lý. Với một hệ thống loa 3 đường tiếng, củ loa bass sẽ nhận tín hiệu điện từ mạch lọc tần số thấp (low-pass filter: chỉ cho các tần số thấp hơn điểm cắt đi qua), trong khi đó củ loa tép sẽ nhận các tín hiệu có tần số cao high-pass filter. Mạch lọc phải được thiết kế cẩn thận, chính xác để đạt được sự chuyển giao trơn tru giữa hai loại tín hiệu trên tại điểm cắt tần. Dải tần hoạt động của củ loa trung thì lại nằm ở khoảng giữa cho nên củ loa này đòi hỏi phải có cả hai mạch lọc ở trên để đảm bảo tín hiệu nhận được là ở dải trung. Kiểu kết hợp giữa low-pass filter và high-pass filter thường hay gọi là band-pass filter. Về lý thuyết, hiện chưa có mạch lọc nào có thể cắt tần hoàn hảo theo chiều thẳng đứng, trong khi đó các củ loa khác nhau lại hoạt động chồng lấn ở một số vùng dải tần tiếp giáp.

Các dạng phân tần thụ động kể trên nhìn chung rất tiện dụng vì người sử dụng không phải can thiệp vào chúng, đáng tin cậy do được thiết kế bởi những kỹ sư giàu kinh nghiệm, và trong phần lớn các trường hợp chúng có giá thành khá hợp lý, ít nhất là cho các hệ thống có công suất nhỏ hoặc trung bình. Tuy vậy, khi hoạt động ở công suất lớn, các thành phần của bộ phân tần thụ động trở nên rất cồng kềnh và đắt tiền do chúng phải tải dòng điện thế lớn hơn. Ngoài ra, bản chất của bộ phân tần thụ động làm chúng tiêu phí năng lượng hữu ích. Một phần công suất của amply luôn bị hấp thụ bởi mạch phân tần thụ động thay vì được chuyển toàn bộ đến loa, do vậy, ta cần phải có amply công suất lớn hơn. Thêm nữa, trừ trường hợp các củ loa trong hệ thống nhiều đường tiếng của chúng ta có cùng độ nhạy (điều này hiếm khi đạt được), còn không thì củ loa có độ nhạy cao hơn luôn cần mức tín hiệu nhỏ hơn. Do vậy, để các củ loa khi kết hợp lại có thể tái tạo phẳng được toàn bộ dải tần, nhà thiết kế phải bỏ bớt một cách có chủ ý một phần công suất của amply bằng cách lắp thêm thành phần trở kháng để làm suy hao bớt mức tín hiệu đến củ loa có độ nhạy cao. Do đó lại càng thêm tiêu phí công suất của amply.

Độ dốc phân tần 

Bộ phân tần thụ động không thể đạt được độ dốc đáng kể tại điểm phân chia tần số nếu không làm tiêu phí phần công suất và không sử dụng các linh kiện cao cấp. Ví dụ: mạch lọc đơn giản chỉ gồm trở và tụ chỉ đạt được độ dốc 6dB/octave, trong khi đó, sự kết hợp giữa tụ và cuộn cảm có thể tạo được độ dốc phân tần là 12dB/octave. Để đạt được độ dốc lớn hơn, nhiều tầng lọc phải được chồng lên nhau dẫn đến sự suy giảm nhiều hơn nữa hiệu suất của năng lượng điện. Chỉ số dB/octave càng cao, đáp ứng của mạch càng có độ dốc cao. Phân tần có độ dốc càng lớn thì các củ loa càng ít hoạt động chồng lấn tại vùng tần số gần tần số cắt, điều mà chúng ta luôn mong muốn. Nguyên nhân là sự chồng lấn quá lớn có thể dẫn đến vấn đề về pha do cả hai củ loa đều cố tái tạo tín hiệu khác nhau đôi chút tại khoảng âm chồng lấn.
Do hiện nay các amply rẻ hơn nhiều (và thường nhẹ hơn) so với trước đây, công suất của chúng không còn là vấn đề nghiêm trọng như trước, do vậy, các mạch phân tần thụ động có thể rất hiệu quả trong các hệ thống có công suất đến vài kilowatts.

Phân tần chủ động (là thiết bị được sản xuất chuyên phân tần số cho hệ thống loa)

Khác với phân tần thụ động, bộ phân tần chủ động chia tách dải tần trước khi tín hiêu được chuyển sang các amply. Mức tín hiệu dòng điện trong giai đoạn này không lớn nên phân tần chủ động không phải chịu mức năng lượng đáng kể, do vậy không cần các linh kiện lớn, phức tạp. Tuy vậy, điều này cũng đồng nghĩa với việc phải sử dụng các amply công suất cho mỗi khoảng tần số. Cụ thể, với hệ thống 3 đường tiếng ta cần 3 amply công suất riêng biệt.

Hiện nay những bộ xử lý tín hiệu âm thanh dạng kỹ thuật số bao gồm các tính năng như crossover, limiter,  chỉnh delay đang dần thay thế dạng analog…
Do mạch phân tần chủ động chỉ làm việc ở mức tín hiệu audio nhỏ, các mạch lọc có thể được xây dựng và sử dụng các mạch điện tử tích cực thông thường tương tự như được sử dụng trong các bộ lọc tần số equalizer, vốn cho phép có được sự linh động hơn rất nhiều trong thiết kế. Và như vậy, thay vì phải tiêu phí năng lượng để chỉnh tín hiệu ra loa theo củ loa có độ nhạy thấp nhất, tín hiệu ra của mạch phân tần chủ động có thể được điều chỉnh để có được sự cân bằng tốt nhất giữa các củ loa. Điều này cho phép các nhà thiết kế lựa chọn củ loa dễ dàng hơn cũng như thiết kế được các mạch lọc có độ dốc cao hơn nên giảm được lượng tín hiệu ngoài giới hạn tần số hoạt động mà từng củ loa thường phải đảm nhận.
Bên cạnh đó, phân tần chủ động giảm nguy cơ gây hư hỏng cho loa tép. Trong trường hợp amply hoạt động ở ngưỡng xảy ra hiện tượng “clipping” – đây là trường hợp tín hiệu ra lớn hơn mức tối đa mà amply kiểm soát được, các sóng âm tần số thấp thông thường trở nên có dạng gần như sóng vuông. Sóng này sẽ vượt qua mạch phân tần và đến loa tép tương tự như các tín hiệu tần số cao khác. Nếu có đủ năng lượng cao hoặc đủ thời gian, chúng có thể gây nóng cho cuộn dây của loa treble và gây cháy chúng.
Với bộ phân tần chủ động, do nằm trước amply nên các phần quá tải của phần bass sẽ vẫn được đưa sang amply của loa bass và đến loa bass. Loa trung và loa tép vẫn nhận được tín hiệu “sạch” từ các amply của chúng.

Loa siêu trầm trong các hệ thống âm thanh loại nhỏ 

Khi các thùng loa trung/tép được tăng cường bởi các thùng loa siêu trầm riêng thì các thùng bass này thường có sẵn mạch phân tần để đưa các tín hiệu có tần số cao hơn một mức nhất định (ví dụ 120Hz) đến loa chính còn phần thấp hơn đến phần amply của loa trầm. Mạch phân tần trong loa chính sẽ chia tín hiệu cho củ loa bass/trung và củ loa tép. Thông thường, ta không cần điều chỉnh đáp ứng tần số ở dải trầm cho loa chính vì mạch phân tần trong loa siêu trầm đã làm việc này. Một ưu điểm khác là chúng ta có thể dễ dàng hơn trong việc điều khiển phần trung âm còn lại. Tuy vậy, không phải loa siêu trầm nào cũng có mạch lọc cho loa chính, một số chỉ đơn thuần cho tín hiệu đi qua mà không lọc, trong trường hợp này, loa chính thường được trang bị mạch cắt âm ở tần số thấp.
Do nhiều loa siêu trầm được thiết kế để dùng đơn lẻ, do vậy tín hiệu cho chúng thường được tổng hợp thành mono, tuy vậy, tín hiệu được cho qua để đến loa chính vẫn được giữ nguyên ở dạng stereo (âm thanh nổi). Đồng thời, loa siêu trầm cũng thường có phần chỉnh âm lượng cho riêng chúng để đảm bảo phần âm thanh trầm được cân bằng với toàn bộ dải âm còn lại. Điều này là cần thiết do lượng tiếng bass phụ thuộc vào tính chất âm học của phòng nghe và vào vị trí đặt loa siêu trầm. Việc sử dụng phân tần thụ động tích hợp trong loa siêu trầm hoặc dùng phân tần thụ động với amply công suất riêng biệt cho loa siêu trầm đều có thể đạt được cùng một hiệu quả như nhau. Nhìn chung, với các hệ thống nhỏ và trung bình thì phương pháp tích hợp phân tần thụ động vào loa là tiện lợi nhất cho dù ta phải cấp nguồn riêng biệt cho từng thùng loa.

Cách bảo vệ củ loa

Do loa có những giới hạn cả về cơ khí cũng như về nhiệt độ mà nếu bị vượt qua sẽ làm hỏng loa nên cần có những cơ cấu bảo vệ. Với hệ thống dùng phân tần thụ động, có thể dùng một số mẹo đơn giản như: mắc một bóng đèn điện thế thấp nối tiếp với loa tép (loa dễ hư hỏng nhất), khi đó, tín hiệu quá lớn sẽ đốt nóng dây tóc của bóng đèn và làm trở kháng của nó tăng lên, kết quả làm giảm lượng tín hiệu cấp vào loa treble. Tuy vậy, với hệ thống dùng phân tần chủ động, ta có thể dễ dàng thiết kế bộ phận giới hạn âm lượng để ngăn không cho amply phải hoạt động ở chế độ “clip”. Các phân tần chủ động này vốn gồm mọi thứ được tích hợp trong thùng loa (có thể được lắp thêm các thiết bị theo dõi nhiệt độ ở amply và khi nhiệt độ tăng đến giới hạn nguy hiểm do quá tải, chúng sẽ giảm công suất hoặc tắt amply để bảo vệ hệ thống âm thanh).

Hầu hết các hệ thống không đòi hỏi chúng ta phải biết chúng sử dụng loại phân tần nào, nhưng chúng ta sẽ có thể sử dụng chúng một cách hiệu quả hơn nếu chúng ta hiểu được sự khác nhau giữa hệ thống thụ động và chủ động đặc biệt là về vấn đề bảo vệ các củ loa.
 
Trở lên trên