CẬP NHẬT

Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2016

Căn bản nhạc lý (phần 9/9)

GIỌNG SONG SONG LÀ GÌ?

Giọng song song là một giọng trưởng và một giọng thứ có chung hóa biểu.

Ví dụ 1: Giọng Đô trưởng và giọng La thứ là hai giọng song song, hóa biểu không có dấu thăng, dấu giáng.


Ví dụ 2: Giọng Pha trưởng và giọng Rê thứ là hai giọng song song, hóa biểu có dấu Si giáng.

DỊCH GIỌNG LÀ GÌ?

Sự chuyển dịch độ cao thấp của một bài hát cho phù hợp với tầm cở giọng của người hát được gọi là dịch giọng.

Khi dịch giọng, trên bản nhạc sẽ có sự thay đổi hóa biểu và tên nốt nhạc nhưng mói quan hệ về cao độ và trường độ của các âm không thay đổi. Người ta chỉ đàn hoặc cao lên hoặc thấp xuống tùy thuộc vào độ cao muốn xê dịch được xác định bằng âm chủ.

Ví dụ: Bài Nụ cười ở giọng Đô trưởng:

Khi dịch giọng bao lên một quãng 4 (Đô-Pha) bài hát sẽ ở giọng Pha trưởng:

Khi dịch giọng thấp xuống một quãng 3 (Đô-La) bài hát sẽ ở giọng La trưởng:

Khi dịch giọng một bài hát hay một bản nhạc, tính chất trưởng hoặc thứ sẽ không bị thay đổi.

ĐẢO PHÁCH NGHỊCH PHÁCH

Đảo phách

Đảo phách là sự xê dịch trọng âm từ phách mạnh sang phách nhẹ và ngược lại.

Bình thường, cảm giác của con người thuận với một âm thanh ngân dài từ phách mạnh sang phách nhẹ. Nhưng khi âm thanh thuộc về phách nhẹ được ngân dài sang phách mạnh tai nghe sẽ phát hiện sự bất thường đó, sự bất thường đó gọi là hiện tượng đảo phách.

Ví dụ: Bình thường, không đảo phách:

Sau khi đảo phách:

Đảo phách có tác dụng làm cho nét nhạc thêm khỏe khoắn nếu ta biết sử dụng đúng mức.

Nghịch phách

Do có sự xê dịch về dấu nhân nên nghịch phách cũng tạo nên được những xáo động mới về tiết tấu và gây được rung cảm mới cho người nghe.

Khi thay thế phách mạnh hoặc phần mạnh của phách bằng dấu lặng ta có nghịch phách.

Ví dụ:

Căn bản nhạc lý (phần 8/9)

Hợp âm là gì?

Hợp âm là một trong những phương tiện diễn tả âm nhạc. Các nhạc sĩ sử dụng hợp âm để thể hiện những ý tưởng, cảm xúc, nội dung âm nhạc ở các tác phẩm nhạc đàn và nhạc hát. Hợp âm là sự vang lên đồng thời của ba, bốn, hoặc năm âm cách nhau một quãng ba.



Ví dụ:

* Hợp âm ba có 3 âm chồng lên nhau theo quãng 3

* Hợp âm bảy có 4 âm chồng lên nhau theo quãng 3

Một số loại hợp âm

Hợp âm bảy

Gồm có 4 âm, các âm cách nhau theo quãng 3. Hai âm ngoài cùng tạo thành quãng bảy.

Ví dụ: Hợp âm Bảy

-Hợp âm Son 7, có 2 âm ngoài cùng là Son và Pha, tạo thành quãng 7

-Hợp âm Pha 7, có 2 âm ngoài cùng là Pha và Mi, tạo thành quãng 7

Hợp âm ba

Gồm có ba âm, các âm cách nhau quãng 3. Hai âm ngoài cũng tạo thành quãng 5.

Ví dụ: Hợp âm ba

-Âm Đô và âm Mi cách nhau một quãng 3 trưởng

-Âm Mi và âm Son cách nhau một quãng 3 thứ

-Âm Đô và âm Son cách nhau một quãng 5 đúng

Tùy theo cách sắp xếp các quãng 3 trưởng, 3 thứ mà tạo thành các hợp âm trưởng hợp âm thứ và các hợp âm khác.

Ví dụ: Hợp âm 3 trưởng, hợp âm 3 thứ

Căn bản về nhạc lý (phân 7/9)

GIỌNG HÒA THANH, GIỌNG GIAI ĐIỆU

1. Giọng trưởng hòa thanh là giọng trưởng có âm bậc VI hạ thấp xuống nửa cung so với giọng trưởng tự nhiên.



Vi dụ: Giọng Đô trưởng hòa thanh

2. Giọng thứ hòa thanh là giọng thứ có âm bậc VII tăng lên nửa cung so với giọng thứ tự nhiên.

Ví dụ: Giọng La thứ hòa thanh


3.Giọng trưởng giai điệu là giọng trưởng khi giai điệu đi xuống bậc VI và bậc VII bị giáng xuông nửa cung so với giọng trưởng tự nhiên. Khi giai điệu đi lên các bậc này trở lại bình thường như trong hình thức tự nhiên.

Ví dụ: Giọng Son trưởng giai điệu







4.Giọng thứ giai điệu là giọng thứ khi giai điệu đi lên có âm bậc VI và bậc VII tăng lên nửa cung so với giọng thứ tự nhiên. Khi giai điệu đi xuống, các bậc này trở lại bình thường như trong hình thức tự nhiên.

Ví dụ: Giọng La thứ giai điệu

GAM và GIỌNG

Gam là hệ thống gồm 7 bậc âm tự nhiên được sắp xếp liền bậc trong một quãng 8 (từ chủ âm đến chủ âm)

I – II – III – IV – V – VI – VII – (I)

Giọng trưởng

Các bậc âm trong gam trưởng dùng để xây dựng giai điệu một bài hát, một bản nhạc thì được gọi là giọng trưởng kèm theo tên âm chủ.

Ví dụ bài Thật là hay của Hoàng Lân, được xây dựng trên công thức gam trưởng, gồm các âm: Đô, Rê, Mi, Pha, Son, La, Si.

Gam trưởng

a)Gam trưởng:
Gam trưởng là hệ thống gồm 7 bậc âm tự nhiên được sắp xếp liền bậc, hình thành dựa trên công thức cung và nửa cung như sau:

Ví dụ gam Đô trưởng:

Âm ổn định nhất trong gam gọi là âm chủ (bậc I)
Trong gam Đô trưởng, âm chủ là Đô

Gam thứ

Là hệ thống gồm 7 bậc âm được sắp xếp liền bậc, hình thành trên công thức cung và nửa cung như sau:

Ví dụ: Gam La thứ:

Đoạn bài hát sau được viết ở gam La thứ:

Trong trường hợp này, sử dụng từ Gam hay Giọng đều được!

Giọng Thứ

Các bậc trong gam thứ được sử dụng để xây dựng giai điệu một bài hát hay một bản nhạc, người ta gọi đó là giọng thứ kèm theo tên âm chủ.

Ví dụ: Bài Đường Chúng ta đi (nhạc phim Trung Quốc)

Căn bản về nhạc lý (phần 6/9)

CUNG và QUÃNG

Cung

Trong 7 tên nốt, khoảng cách cao độ của chúng không đồng đều nhau, có khoảng cách 1 cung, có khoảng cách nửa cung.
Các khoảng cách cao độ được ghi như sau:

*Do ảnh hưởng của dấu hoá nên có 2 loại nửa cung như sau:
a) Nửa cung Diatonic (nửa cung dị):
Là tên gọi nửa cung của 2 nốt nhạc khác tên nhau. Nửa cung Diatonic được tạo ra giữa 2 bậc liền kề nhau của hàng âm.
Ví dụ:

b) Nửa cung Crômatic (nửa cung đồng):
Là tên gọi nửa cung của 2 nốt nhạc cùng tên nhau. Nửa cung Crômatic được tạo ra trong một bậc cơ bản với sự nâng cao hoặc hạ thấp chính nó.
Ví dụ:

Quãng

Quãng là sự liên kết giữa hai hoặc nhiều âm thanh phát ra cùng một lúc (hay phát ra lần lượt). Nốt thấp nhất của quãng gọi là nốt nền, nốt cao của quãng gọi là nốt đỉnh.

Tóm lại : Khoảng cách cao độ giữa hai nốt nhạc được gọi là quãng.
Ví dụ : Nốt Son và nốt La có khoảng cách là quãng 2, nốt Đô với nốt Đô là quãng 1, nốt Rê với nốt Pha là quãng 3...
Có hai loại quãng là quãng giai điệu và quãng hoà thanh
-Quãng giai điệu là quãng mà các nốt nhạc phát ra lần lượt nốt nọ đến nốt kia.
-Quãng hoà thanh là quãng mà các nốt nhạc phát ra đồng thời cùng một lúc.

DẤU NHẮC LẠI – DẤU HỒI TẤU KHUNG THAY ĐỔI

Dấu hồi tấu

Khi có thêm yêu cầu phải diễn lại một phần hoặc toàn bài nhạc, người ta dùng thêm dấu hồi tấu. Dấu hồi tấu được ghi 2 lần.

Khung thay đổi

Khi sử dụng dấu nhắc lại, ở lần 2, nếu có sự thay đổi ở những ô nhịp cuối cùng người ta dùng khung thay đổi.
Lần 1: trình diễn bình thường
Lần 2: đến những ô nhịp trong vùng ảnh hưởng của khung thay đổi 1 ta phải bỏ qua không trình diễn, mà trình diễn qua những ô nhịp trong vùng ảnh hưởng của khung thay đổi 2 trở về sau.

Dấu nhắc lại

Khi có thêm yêu cầu phải diễn lại một phần hoặc toàn bài nhạc, người ta dùng thêm dấu hồi tấu. Dấu hồi tấu được ghi 2 lần.

Dấu co-đa

Khi trình bày lần thứ hai, nếu có yêu cầu phải bỏ bớt phần nào đó người ta dùng dấu Cô-đa. Dấu cô-đa cũng được ghi 2 lần.

HƯỚNG DẪN CÁCH XỬ LÍ KHI GẶP CÁC KÍ HIỆU

Kí hiệu dấu nhắc lại có khung thay đổi


Thứ tự trình diễn như sau: 1-2-3-4-5-6-3-4-5-7-8.

Kí hiệu dấu nhắc lại không có khung thay đổi


Thứ tự trình diễn như sau:1-2-3-4-5-6-3-4-5-6-7-8.

Kí hiệu dấu hồi tấu có dấu cô-đa


Thứ tự trình diễn như sau: 1-2-3-4-5-6-3-4-5-7-8-1-2-3-7-8.

Kí hiệu dấu hồi tấu không có dấu cô-đa


Thứ tự trình diễn như sau: 1-2-3-4-5-6-3-4-5-7-8-1-2-3-4-5-6-3-4-5-7-8.

NHỊP LẤY ĐÀ

Một ô nhịp thông thường thì số lượng phách được qui định bởi số chỉ nhịp (không được ít hơn hoặc nhiều hơn)
Ví dụ:
Nhịp 2/4: mỗi nhịp (ô nhịp) có 2 phách ứng với 2 hình nốt đen;
Nhịp 3/4: mỗi nhịp (ô nhịp) có 3 phách ứng với 3 hình nốt đen;
Nhịp 6/8: mỗi nhịp (ô nhịp) có 6 phách ứng với 6 hình nốt móc đơn;
...
Tuy nhiên có khi ở ô nhịp đầu, do chủ ý của tác giả, bản nhạc được bắt đầu từ một phách yếu, ô nhịp đó không đủ số phách theo qui định. Ô nhịp đó gọi là nhịp lấy đà.

Căn bản về nhạc lý (phần 5/9)

PHÁCH

Trong mỗi nhịp (ô nhịp hay nhịp trường canh) lại chia ra nhiều quãng thời gian đều nhau nhỏ hơn gọi là phách.
Mỗi nhịp đều có phách mạnh, phách nhẹ. Phách mạnh bao giờ cũng nằm ở đầu ô nhịp. Nhờ có phách mạnh, phách nhẹ ta mới phân biệt được các loại nhịp khác nhau.
Số lượng phách trong mỗi ô nhịp tuỳ thuộc vào số chỉ nhịp.
Phách có thể chia ra làm nhiều phần nhỏ hơn một nốt nhạc hoặc có thể có nhiều phách trong một hình nốt nhạc.
Ví dụ:
Trong nhịp 4/4, một phách có thể bằng một hình nốt đen hoặc 2 hình nốt đơn hoặc 4 hình nốt móc kép…; một hình nốt tròn có 4 phách, một hình nốt trắng có 2 phách… (cụ thể sẽ nói rõ hơn trong phần Số chỉ nhịp)

NHỊP

Khi nghe một bản nhạc hay một bài hát, ta thường thấy cách một khoảng thời gian đều nhau nào đó có một tiếng đệm mạnh (hay một tiếng trống đệm theo). Khoảng thời gian đều nhau giữa tiếng mạnh trước với tiếng mạnh sau gọi là nhịp.
Để phân biệt nhịp nọ với nhịp kia người ta dùng một vạch thẳng đứng trên khuông nhạc gọi là vạch nhịp.


- Khoảng cách giữa 2 vạch nhịp gọi là ô nhịp hoặc nhịp trường canh.
- Khi kết thúc 1 đoạn nhạc hay thay đổi khoá nhạc, thay đổi nhịp, người ta dùng 2 vạch nhịp, gọi là vạch kép.

- Chấm dứt bài nhạc người ta dùng vạch kết thúc bao gồm 1 vạch bình thường và 1 vạch đậm hơn ở phía ngoài.

SỐ CHỈ NHỊP

Số chỉ nhịp ghi đầu bản nhạc, sau khoá nhạc và chỉ ghi một lần ở khuông nhạc đầu tiên (trừ trường hợp có sự thay đổi nhịp)
Số chỉ nhịp trông giống như một phân số
-Số ở trên biểu thị số phách có trong mỗi ô nhịp.
-Số ở dưới biểu thị độ dài của mỗi phách là bao nhiêu (tương ứng với hình nốt nào)

*Một số loại nhịp thông dụng:
-Nhịp 2/4:
Nhịp 2/4 trong mỗi ô nhịp có 2 phách, mỗi phách có độ dài bằng 1 hình nốt đen (mỗi ô nhịp có hai hình nốt đen)

-Nhịp 3/4:
Nhịp 3/4 trong mỗi ô nhịp có 3 phách, mỗi phách có độ dài thời gian bằng một hình nốt đen (mỗi nhịp có 3 hình nốt đen…)

-Nhịp 3/8:
Nhịp 3/8 trong mỗi ô nhịp có 3 phách, mỗi phách bằng 1 hình nốt móc đơn. (mỗi nhịp có 3 hình nốt móc đơn)

-Nhịp 6/8:
Nhịp 6/8 trong mỗi ô nhịp có 6 phách, mỗi phách bằng 1 nốt móc đơn. (mỗi nhịp có 6 hình nốt móc đơn)

*Những nhịp có số bên dưới là 4: độ dài của phách là nốt đen.

*Những nhịp có số bên dưới là 8: độ dài của phách là nốt móc đơn.

DẤU CHẤM DÔI-DẤU CHẤM NGÂN

Dấu nối, dấu chấm dôi, dấu chấm ngân là những kí hiệu bổ sung để tăng thêm độ dài của âm thanh.
1.Dấu nối thường được sử dụng khi tăng thêm độ dài của nốt nhạc cùng tên nhau.
2.Dấu luyến là kí hiệu dùng để nối cao độ của các nốt nhạc khác tên nhau. Hay nói cách khác, muốn thể hiện một tiếng hát ở hai nốt nhạc khác nhau người ta dùng dấu luyến.
3.Dấu chấm dôi là kí hiệu tăng độ dài của nốt nhạc trong cùng một ô nhịp mà tổng độ dài của các nốt nhạc trong ô nhịp không vượt quá số phách quy định trong ô nhịp được ghi ở số chỉ nhịp. Dấu chấm dôi là một chấm nhỏ nằm ở bên phải nốt nhạc và có giá trị tăng thêm 1/2 độ dài của chính nốt đó.
4.Dấu chấm ngân là kí hiệu ghi ở trên nốt nhạc, khi gặp dấu này, người hát hoặc người đàn có thể xử lí tự do.

DẤU LẶNG

Trong khi trình bày một bài hát, bản nhạc, có những lúc ta phải ngưng nghỉ. Thời gian ngưng nghỉ đó có các dấu hiệu để ghi lại, các dấu hiệu đó gọi là dấu lặng.
Ứng với các hình nốt chỉ độ dài thời gian vang lên của âm thanh, có các dấu lặng để chỉ thời gian ngưng nghỉ như sau:

Dấu lặng trắng thời gian ngưng nghỉ bằng 1 nốt trắng
Dấu lặng đơn thời gian ngưng nghỉ bằng 1 nốt đơn
Dấu lặng kép thời gian ngưng nghỉ bằng 1 nốt móc kép
Dấu lặng tròn thời gian ngưng nghỉ bằng 1 nốt tròn
Dấu lặng đen thời gian ngưng nghỉ bằng 1 nốt đen
Những dấu lặng có độ dài ngắn hơn ít dùng trong ca khúc.

Căn bản về nhạc lý (phần 4/9)

DẤU HOÁ LÀ GÌ?

Dấu hoá là kí hiệu cho biết sẽ làm thay đổi cao độ của nốt nhạc lên cao hoặc xuống thấp hơn với khoảng cách là 1/2 cung so với vị trí nó đang đứng. Có 3 loại dấu hoá thường dùng:


ẢNH HƯỞNG CỦA DẤU HOÁ

Tuỳ theo vị trí, dấu hoá có tác dụng và tên gọi như sau:

Dấu hóa bất thường

Dấu hoá bất thường không có vị trí cố định, thỉnh thoảng xuất hiện trong bản nhạc nên gọi là dấu hoá bất thường.
Dấu hoá bất thường đặt ngay trước nốt nhạc và chỉ ảnh hưởng trong một ô nhịp.
*Tất cả 5 loại dấu hoá: thăng, thăng kép, giáng, giáng kép, dấu bình đều được dùng làm dấu hoá bất thường.

Dấu hóa theo khóa

Dấu hoá theo khoá viết ở đầu mỗi khuông nhạc. Dấu hoá này ảnh hưởng đến tất cả nốt nhạc nào mang tên dấu hoá đó.

Tất cả các nốt Pha trong bài nhạc đều phải nâng cao lên 1/2 cung do ảnh hưởng của dấu hóa pha thăng ở đầu khoá.

Tất cả các nốt Si trong bài nhạc đều phải hạ thấp xuống 1/2 cung do ảnh hưởng của dấu hoá Si giáng ở đầu khoá.

*Lưu ý: Chỉ có 2 loại dấu hoá là dấu thăng và dấu giáng được sử dụng làm dấu hoá theo khoá.
*Khi sáng tác bài hát hoặc bản nhạc, việc lựa chọn xây dựng bài hát, bản nhạc trên một gam nào đó tuỳ thuộc vào chủ ý của tác giả. Nếu xây dựng trên gam Đô trưởng hoặc La thứ thì không xuất hiện dấu hoá theo khoá. Còn nếu xây dựng trên một gam khác 2 gam trên thì bắt buộc phải sử dụng dấu hoá theo khoá. Cụ thể các em sẽ được tham khảo ở những bài sau.
*Trình tự xuất hiện dấu thăng: theo vòng quãng 5 đi lên (quãng 4 đi xuống)
Pha-Đô-Son-Rê-La-Mi-Si
*Trình tự xuất hiện dấu giáng : theo vòng quãng 4 đi lên (quãng 5 đi xuống)
Si-Mi-La-Rê-Son-Đô-Pha
*Cách tính giọng với hoá biểu có dấu thăng :
Từ dấu thăng cuối cùng tính lên quãng 2 thứ (0,5cung) ta được giọng trưởng, tính xuống quãng 3 thứ (1,5 cung) ta được giọng thứ song song:
VD: Từ dấu thăng nốt Đô tính lên Đô-Rê:Ta được giọng Rê trưởng, tính tiếp xuống Đô-Si-La ta được giọng La thứ.
*Cách tính giọng với hoá biểu có dấu giáng :
Từ dấu giáng cuối cùng tính xuống quãng 4 giảm (2,5cung) ta được giọng trưởng, tính xuống quãng 3 thứ (1,5 cung) ta được giọng thứ song song:
VD: Từ dấu giáng nốt Mi tính xuống Mi-Rê-Đô-Si:Ta được giọng Si giáng trưởng, tính tiếp xuống Si giáng-La giáng-Son ta được giọng Son thứ.
Đối với các hoá biểu có 2 dấu giáng trở lên, lấy tên nốt có dấu giáng áp út chính là tên của giọng trưởng.

 
Trở lên trên